Our | Blog

CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO THƯƠNG HIỆU “SANG CHẢNH”

Làm marketing cho thương hiệu cao cấp là câu chuyện hoàn toàn khác và đòi hỏi cách tiếp cận rất khác biệt cho vấn đề quản trị thương hiệu và marketing. Khi đi vào nghiên cứu sâu rộng thị trường hàng cao cấp, sau đây là 6 điều cần lưu ý cho các nhãn hàng “sang chảnh” trong quá trình thiết kế nhận diện thương hiệu riêng và truyền thông thông điệp thật sự hiệu quả đến khách hàng.

1. Tăng cường và củng cố niềm tin cho khách hàng

Không như các thương hiệu mang tính đại chúng, các thương hiệu sang trọng không nên cố gắng làm hài lòng tất cả mọi người mà nên làm hài lòng những khách hàng là tín đồ hàng hiệu thực sự.

Hiện nay, thay vì chi ngân sách vào một số công cụ hiệu quả mà họ muốn tiếp cận phổ rộng nhất có thể tới khách hàng. Thay vào đó, thương hiệu cao cấp nên thay đổi chiến lược thương hiệu của mình để tập trung vào những điểm mạnh trong liên tưởng thương hiệu nhằm được khách hàng đón nhận theo hướng tích cực hơn.

2. Tập trung toàn bộ vào các biểu tượng trực quan

Khi người tiêu dùng suy nghĩ về một thương hiệu sang trọng, họ có khả năng suy nghĩ về toàn bộ các biểu tượng trực quan mà họ trải nghiệm bao gồm: chữ lồng, biểu tượng thương hiệu, logo, màu sắc, mẫu, hình ảnh và thậm chí ý niệm. Thương hiệu cao cấp nên chủ động lựa chọn cho mình các biểu tượng trực quan phù hợp. Để thông qua các biểu tượng này, việc nhận diện thương hiệu cao cấp trở nên dễ dàng hơn.

3. Nghi lễ bán hàng

Một thương hiệu sang trọng thật sự không chỉ đơn giản là cung cấp sản phẩm của mình cho khách hàng; mà họ còn phải làm nhiều hơn để cung cấp dịch vụ độc đáo hoặc quy trình mang tính nghi lễ.

2-le2

Mua nước hoa Le Labo là mua sản phẩm mang tính trải nghiệm cá nhân

Song song với chiến lược phát triển thương hiệu và nhận diện thương hiệu, nước hoa Le Labo đã sử dụng nguyên lý đánh giá rằng chất lượng của nước hoa sẽ bị giảm chất lượng theo thời gian, hãng đã cách cung cấp một trải nghiệm cá nhân đặc biệt: mỗi chai nước hoa Le Labo mà khách hàng được mua sẽ được pha trộn trực tiếp bằng tay và được chuẩn bị riêng cho từng khách hàng (mang tính cá nhân hóa cao) ở ngay trước mặt khách hàng tại thời điểm họ mua hàng. Các chai thủy tinh sau đó được đề ngày tháng và tên của khách hàng được in trên nhãn.

Sau khi mang nước hoa về nhà, khách hàng phải ướp chai nước hoa đó trong tủ lạnh trong một tuần trước khi sử dụng nó. Thông qua “nghi lễ” này, việc mua nước hoa Le Labo không chỉ đơn thuần là mua một sản nước hoa phẩm độc quyền mà còn là một trải nghiệm cá nhân.

4. Chú ý đến thiết kế cửa hàng

Trước đây, các thương hiệu hạng sang chỉ cần xây dựng cửa hàng sử dụng các chất liệu gạch vữa thông thường thôi cũng đã đủ cho các thương hiệu sang trọng cửa hàng bán sản phẩm của mình, nhưng bây giờ họ phải tối ưu nhiều mục tiêu hơn trong việc thiết kế cửa hàng nhằm tối ưu cao nhất các không gian, chức năng và trải nghiệm khách hàng và quan trọng hơn cả là truyền niềm tin thương hiệu. Những loại cửa hàng cao cấp được thiết kế, xây dựng và hoạt động gần giống như một “ngôi đền” của những tín đồ để phân khúc khách hàng dễ dàng hơn.

arch7

Đến với BMW World ở Munic, bạn tha hồ “trải nghiệm và tưởng tượng”

Starbucks có sẵn phòng nghiên cứu và thiết kế cửa hàng để phù hợp với từng quốc gia, vùng miền nhằm tối ưu hóa về chi phí, hiệu quả kinh doanh mà vẫn đảm bảo nhận diện thương hiệu cafe Starbucks trong lòng mỗi khách hàng.

5. Thành lập câu lạc bộ khách hàng độc quyền

Thương hiệu đại chúng xác định khách hàng của họ là ai và “đẩy” sản phẩm đến với khách hàng. Đối với thương hiệu sang trọng, vai trò được đảo ngược: khách hàng phải được chọn lọc, phải được “kéo” về thương hiệu với lời hứa thuộc về một cộng đồng độc quyền với nhiều ưu đãi đặc biệt và dành riêng. Chỉ có những khách hàng thực sự của thương hiệu đó mới có thể gia nhập câu lạc bộ độc quyền này và được tận hưởng những giá trị gia tăng dành riêng.

Hãng BMW có chương trình tri ân khách hàng là tổ chức tiệc sinh nhật cho con cái của khách hàng chứ không chỉ là tổ chức sinh nhật cho chính khách hàng. Rất nhiều khách hàng muốn gia nhập câu lạc bộ này, nhưng không phải khách hàng nào cũng được lựa chọn.

6. Truyền thông mang tính biểu tượng

Thương hiệu đại trà thường có xu hướng truyền thông mang tính so sánh mình với đối thủ cạnh tranh và truyền thông tới khách hàng những điều lợi thế của mình tới khách hàng. Nhưng các nhãn hiệu sang trọng đều hoạch định một chiến lược xây dựng thương hiệu khác biệt.

nha_may_rr_3_ezas

Rolls Royce đưa khách hàng đến với các trải nghiệm riêng biệt

Thay vào đó, thương hiệu xa xỉ nhắm mục đích giao tiếp và truyền thông tạo nên thương hiệu mang tính huyền thoại và biểu tượng, gắn liền thương hiệu với một bí mật, bí ẩn, huyền thoại để thiết lập một câu chuyện truyền thông được ca ngợi.

 Theo brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

CÁC THƯƠNG HIỆU NỔI TIẾNG KHỞI NGUỒN TỪ SẢN PHẨM QUÂN SỰ (PHẦN 2)

Một số thương hiệu tự hào thể hiện nguồn gốc lịch sử thương hiệu của mình vào logo, trên website hay các sản phẩm tiếp thị. Trong khi số khác lại đưa thông tin ấy vào những cuốn sách lịch sử doanh nghiệp. Dù theo cách nào đi nữa, rất nhiều thương hiệu khởi nghiệp bằng việc cung cấp sản phẩm cho quân đội hoặc tạo ra sản phẩm nổi tiếng trong thời chiến.

5. Áo măng tô Aquascutum

Anh-2-7233-1415263599

Aquascutum được phát minh vào năm 1851. Nhận diện thương hiệu áo măng tô Aquascutum bắt nguồn từ việc các sỹ quan quân đội Anh mặc loại áo choàng đi mưa này trong Chiến tranh Crimea để tránh mưa và bùn đất trong các hầm hào quân sự của Nga (tên thương hiệu có nguồn gốc từ tiếng Latin “aqua” nghĩa là nước và “scutum” nghĩa là lá chắn).

Và vài thập kỷ sau, bức ảnh cho thấy cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đang mặc một trong những mẫu áo choàng cổ điển của Aquascutum.

6. Băng vệ sinh Kotex

Băng vệ sinh Kotex ban đầu là miếng gạc y tế dùng để điều trị cho những người lính bị thương trong Thế chiến thứ nhất. Các nữ y sĩ sau đó sử dụng các miếng gạc này trong thời kỳ kinh nguyệt. Năm 1920, Kotex trở thành sản phẩm chiến lược của  Kimberly-Clark.

7. Keo dán Super Gluez

Keo dán lần đầu tiên được phát hiện ra vào năm 1942 khi một nhóm nhà khoa học – đang tìm kiếm các loại nguyên liệu để sản xuất ống ngắm cho súng – vô tình nhận thấy vật liệu này dính chặt vào nguyên liệu khác mà nó tiếp xúc. Các nhà nghiên cứu Mỹ phản đối chất keo xyanoacrylat (tên hóa chất của loại keo) vì nó quá dính. Nhưng năm 1951, loại keo này lại một lần nữa được các nhà nghiên cứu tại Eastman Kodak phát hiện ra. Super Glue bắt đầu được bán thương mại vào năm 1958.

8. Dao đa năng Victorinox

victorinox-classic-sd-swiss-army-knife-silver-alox-d-201205021416189_6819934w

Victorinox được phát minh ra vào năm 1864 tại xưởng làm dao kéo Ibach-Schqyz, Thụy Sĩ. Nhà sáng lập Karl Elsener I tiếp tục trở thành nhà cung cấp đầu tiên loại dao nhíp chuyên dụng cho quân đội Thụy Sĩ.

9. Thời trang Hugo Boss

 Hugo Boss là thành viên Đảng Quốc xã (Nazi Party) và năm 1928 trở thành nhà cung cấp chính thức đồng phục cho các tổ chức thuộc Đảng Xã hội Quốc gia (National Socialist Party), kể cả Hitler Young Sturmabteilung và SS.

10. Nước ngọt Fanta

020011

Nước ngọt Fanta lần đầu tiên được phát minh do lệnh cấm nhập khẩu xi-rô Coca-Cola vào nước Đức Quốc xã trong Thế chiến thứ II. Khi đó, người đứng đầu Coca-Cola Deutschland đã đầu tư vào thương hiệu riêng tại nước Đức bằng cách tạo ra loại đồ uống mới chứa đựng những thành phần sẵn có trong nước vào thời điểm đó như nước sữa (whey) và bột táo nghiền. Kết quả là Fanta ra đời, bắt nguồn từ tiếng Đức “Fantasie”. Coca-Cola sau đó đã tái phát triển Fanta và xây dựng một chiến lược thương hiệu riêng cho dòng sản phẩm này trên toàn thế giới vào năm 1955.

11. Xe bọ Volkswagen Beetle

Porsche làm ra xe bọ Volkswagen Beetle sau khi Adolf Hitler yêu cầu sản xuất mẫu ôtô cứng cáp, vững chắc, đại chúng nhưng phải rẻ tiền, tiện dụng trên mạng lưới giao thông đường bộ mới xây dựng của Đức. Chiếc xe bọ đầu tiên được sản xuất vào năm 1938. Dưới đây là mẫu xe bọ 1963, nổi tiếng trong bộ phim “Herbie”.

12. Điện thoại Motorola

Motorola khởi nghiệp là hãng sản xuất pin và ắc-quy mang tên Galvin Manufacturing Corporation. Nhưng năm 1940, hãng này đã phát triển máy bộ đàm Handie-Talkie SCR536 tiện dụng – trở thành một biểu tượng trong Thế chiến thứ hai.

13. Băng keo Duct Tape

Duct Tape lần đầu tiên được Johnson & Johnson phát minh ra trong Thế chiến thứ hai khi những người lính cần một loại dải băng chắc khỏe, linh hoạt và chống nước có thể sửa chữa máy móc, thiết bị và quân trang quân dụng. Những người lính gọi đây là “Duck Tape” do sản phẩm có sử dụng đến loại vải duck cloth.

Theo cafebiz.vn

Biên tập bởi Brand2

VÌ SAO STARBUCKS LOẠI CAPPUCCINO KHỎI THỰC ĐƠN TẠI NHIỀU CỬA HÀNG?

Từ năm 1986, Cappuccino là một trong những loại đồ uống espresso cơ bản nhất trong thực đơn của Starbucks kể từ khi CEO Howard Schultz đưa vào. Nhưng mới đây, Starbucks đã ngừng liệt kê món cappuccino trên thực đơn tại nhiều cửa hàng. Tại nhiều cửa hàng, khách hàng đã xác nhận việc này ở New York, San Francisco và Seattle.Liệu việc loại bỏ Cappuccino là bước thay đổi dần trong chiến lược định vị thương hiệu mới của Starbucks.

 

1

Cappuccino đã được Starbucks đưa vào thực đơn từ năm 1986

Starbucks từ chối bình luận về việc loại cappuccino ra khỏi thực đơn mà chỉ lưu ý rằng bảng thực đơn tại các cửa hàng trên thế giới có thể khác nhau tùy thuộc vào ý định nhấn mạnh vào loại đồ uống nào tại từng vùng miền và cappuccino vẫn sẵn có khi khách hàng yêu cầu.

Khi được pha chế theo phong cách Ý mà CEO Schultz rất ngưỡng mộ, một ly cappuccino và latte rất khác biệt. Trong khi cappuccino đươc pha chế bằng cách dùng espresso pha với váng sữa hoặc kem và có thêm bột quế/cacao thì latte cũng dùng espresso nhưng pha với sữa ở áp suất cao. Hơn nữa, lưu ý nhỏ ở đây là lượng bọt sữa trong latte chỉ bằng một nửa sữa nóng mà thôi. Vì thế, một ly Latte bao giờ cũng ít “phồng” hơn cappuccio.

2

Các cửa hàng Starbucks pha chế cappuccino khá tuyệt

Năm 2015, tạm gác tính cầu kỳ và phức tạp khi pha chế cappuccino, chúng ta lại tiếp nhận một món mới từ Starbucks dễ gây nhầm lẫn là cà phê kiểu Úc flat white – loại cà phê này cũng là espresso pha với sữa, nhưng sữa và bọt được quậy đều lên. Hầu hết mọi người không hiểu được flat white có gì khác so với latte và cappuccino, thậm chí nhân viên pha chế của Starbucks cũng gặp khó khăn khi được hỏi về vấn đề này.

Mọi chuyện đang được cân nhắc, phải chăng một thực đơn với flat white và latte (thay vì cappuccino và latte) sẽ trở nên phong phú hơn và lợi nhuận tốt hơn?

Cappuccino sẽ ra khỏi thực đơn của Starbucks? Thương hiệu cà phê nổi tiếng này chưa hẳn quyết định như vậy, nhưng hiện nhiều cửa hàng Starbucks đã không còn ghi cappuccino vào thực đơn nữa. Sự thay đổi này đang mang lại nhiều cảm xúc cho đa số khách hàng coi cappuccino là món khoái khẩu. Từ góc độ kinh doanh, từ quan sát định hướng đơn giản hóa nhận diện và làm rõ định vị của Starbucks, liệu đây đơn thuần chỉ là bước đi tái cơ cấu danh mục sản phẩm để tập trung vào vùng lợi nhuận hay sẽ là bước đi để dần tiến tới một định vị thương hiệu mới? Câu trả lời sẽ còn nằm ở phía sau.

Theo nhipcaudautu.vn

Biên tập bởi Brand2

THƯƠNG HIỆU BÁNH NGỌT CỦA NHÀ HỌ LÝ TRÊN ĐẤT MỸ

Thương hiệu bánh ngọt Sugar Bowl Bakery do dòng họ Lý sáng lập năm 1984. Từ một tiệm bánh nhỏ có giá 40.000 USD ở San Francisco, Sugar Bowl Bakery nay đã trở thành lò bánh công nghiệp cao cấp trị giá 60 triệu USD, lớn nhất phía Bắc bang California.

Hiện nay, thương hiệu bánh ngọt Sugar Bowl Bakery có mặt ở 7.000 cửa hàng trên khắp nước Mỹ, đồng thời xuất khẩu qua 11 quốc gia ở châu Á và châu Âu. Điều gì đã tạo nên thương hiệu bánh ngọt thành công cho gia đình gốc Việt này?

1. Quyết tâm làm chủ

Thành công hiện nay bắt nguồn từ nỗ lực kiên trì của cả 5 anh em họ Lý: Tom, Binh, Andrew, Sam và Paul. Tuy đến Mỹ trong tình trạng không một xu dính túi, họ nung nấu quyết tâm làm chủ: “Chúng tôi quyết tâm sẽ làm bất cứ công việc gì. Không chỉ để sống qua ngày mà còn để tích cóp mở cửa hàng của riêng của mình”, Andrew Lý chia sẻ.

Đến năm 1984, sau thời gian dài lao động miệt mài, họ thu gom đủ 40.000 USD để mua lại một quán cà phê nhỏ trên phố Balboa, quận Outer Richmond. Quán cà phê chuyển thành tiệm bánh Sugar Bowl Bakery, chuyên giao bánh rán cho các quán rượu và tiệm ăn trong vùng. Đầu những năm 1990, các khách sạn lớn ở San Francisco đồng loạt cắt giảm chi phí bằng cách thuê ngoài làm các món bánh tráng miệng. Nhân cơ hội đến, Sugar Bowl Bakery nhanh chóng chuyển từ tiệm bán lẻ bánh rán thành đơn vị cung ứng sỉ tới 350 loại bánh ngọt Á – Âu khác nhau cho tất cả khách sạn và bệnh viện trong vùng. Thế là doanh thu tăng vọt lên mức 150.000 USD/năm. Năm 2008, Sugar Bowl Bakery mở rộng thêm 5 tiệm bánh và 2 nhà máy mới ở vùng vịnh San Francisco.

f1

Sau hơn 20 năm hoạt động, mục tiêu ban đầu của ngày đến Mỹ đã thành hiện thực: mỗi người đã có một tiệm bánh của riêng mình. Song, chưa đầy 3 năm sau, họ lại bán đứt tất cả các tiệm bánh và một lần nữa cùng nhau “nhào nặn” một Sugar Bowl Bakery mới.

2. Thăng hoa cùng Costco

Diện mạo mới của Sugar Bowl Bakery có sự góp phần không nhỏ từ hệ thống bán lẻ Costco. Họ gửi hàng mẫu đến Costco để thử nhưng hàng nhanh chóng bị Costco trả về. Sau mỗi lần thất bại, anh em nhà họ Lý lại càng quyết tâm nghiên cứu đầu tư cải tiến chất lượng bánh.

f2

Chất lượng không chỉ nằm ở nguyên liệu, mà còn dựa vào công nghệ để bảo đảm vệ sinh. Để đáp ứng yêu cầu của Costco, họ Lý đã chi hàng triệu USD nâng cấp nhà máy. Các dây chuyền sản xuất được tự động hóa bằng robot. Đặc biệt, bánh sau khi nướng được làm lạnh bằng máy xoáy vòng tốc độ cao. Công nghệ này giúp giữ bánh đến 20 ngày mà không cần chất bảo quản.

Không chứa chất bảo quản – là yếu tố quyết định nên định vị thương hiệu chất lượng của các sản phẩm Sugar Bowl Bakery. Kết quả là đến năm 2008, Costco cùng 14 hệ thống bán lẻ khác của Mỹ đã chấp nhận nhập bán 4 dòng bánh Petite Palmiers, Petite Brownie Bites, Madeleines và Duet Bites của Sugar Bowl Bakery.

f3

Với lợi thế vượt trổi này, Sugar Bowl Bakery hiển nhiên trở thành thương hiệu ưa thích của người tiêu dùng Mỹ và có hệ thống nhận diện được nhận biết rộng rãi. Doanh số Công ty tăng tới 40 triệu USD mỗi năm, bền vững quanh mức 20-25%; và hãng này bắt đầu xuất khẩu ra nước ngoài. Trong năm 2014, lợi nhuận biên tiếp tục được nới rộng khi Công ty lắp đặt máy phát điện năng lượng mặt trời để giảm 65% chi phí điện, đồng thời loại bỏ lượng cacbon và khí ga thải ra môi trường.

Tháng 4.2015, Sugar Bowl Bakery cho ra mắt dòng bánh hữu cơ, hoàn toàn làm từ nguyên liệu tự nhiên. Mục tiêu của họ Lý là đáp ứng nhu cầu dùng thực phẩm hữu cơ của 81% gia đình Mỹ hiện nay. Trước thành công liên tiếp, Micheal Lý, con trai Andrew Lý kiêm Giám đốc Marketing Công ty, khẳng định rằng: “Chuyện chúng tôi giành thị phần lớn hơn chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Ngoài 2 yếu tố chịu khó và kiên trì mà Obama kết luận về thành công của gia đình họ Lý, còn có mối đoàn kết bền chặt giữa các thành viên gia đình và cả với cộng đồng. Andrew Lý chia sẻ về chiến lược thương hiệu mà ông và anh em mình đã xây dựng: “Nếu bạn chỉ làm cho bản thân, thứ bạn làm sẽ chết đi cùng bạn. Nhưng, nếu bạn làm vì người khác, thứ bạn làm sẽ tồn tại mãi mãi”.

Theo nhipcaudautu.vn

 Biên tập bởi Brand2

CHIẾN LƯỢC THƯƠNG HIỆU CỦA TOYOTA

Những năm 1957, hai ông trùm ô tô Ford và Chevy đang thống trị thị trường. Nhưng chỉ 50 sau khi Toyota xuất hiện, Toyota đã trở thành hãng sản xuất xe lớn nhất thế giới. Bí quyết về chiến lược thương hiệu mà Toyota áp dụng gợi nhắc ta nhiều bài học để đời cho các doanh nghiệp hiện nay.

Toyota – hoạt động theo mô hình công ty gia đình nhưng dựa trên các nguyên tắc hoạt động vô cùng chặt chẽ: tôn trọng nhân viên và tôn trọng khách hàng. Ngoài ra, Toyota còn có rất nhiều bí mật để làm nên thương hiệu của một hãng sản xuất xe lớn nhất thế giới. Cùng tìm hiểu ngay sau đây:

1. Ưu tiên việc lập kế hoạch dài hạn

d1

Dòng xe lai Prius – dòng xe hybrid tiết kiệm nhiên liệu

Toyota luôn mong muốn phát triển sản phẩm để đem lại sức ảnh hưởng trong thời gian dài thay vì chạy theo xu hướng hay trào lưu ngắn hạn. Dòng xe lai Prius ra đời năm 2000 trong khi giá xăng còn rất rẻ và không ai nghĩ rằng sẽ có ngày giá xăng tăng như bây giờ.

Hình ảnh chiếc xe lai đã trở thành biểu tượng của sự đột phá trong ngành xe hơi và doanh số sản phẩm Prius đã đạt đến mốc 1 triệu vào tháng 5/2008. Định vị thương hiệu đúng đắn rõ ràng đã góp phần khẳng định vị trí số 1 của dòng xe lai Prius so với các đối thủ cạnh tranh khác.

2. Cân nhắc khi đưa ra quyết định

Triển khai sai sản phẩm có thể ảnh hưởng lớn đến định vị thương hiệu của Toyota. Do đó, mỗi lần đưa ra quyết định, Toyota phải nghiên cứu rất kỹ tất cả các lựa chọn và đảm bảo các bên liên quan đều đồng ý với quyết định đó. Một khi Toyota đã quyết định sản xuất loại xe nào đó, họ có thể tung sản phẩm ra thị trường nhanh hơn bất cứ đối thủ cạnh tranh nào.

3. Tiếp thu và học hỏi điều hay

Toyota học hỏi về dây chuyền sản xuất của Ford, các lý thuyết quản lý của W. Edwards Deming,… Những bài học này giúp Toyota đặt chân vào Mỹ, thị trường xe lớn nhất thế giới. Cách đây gần 2 thập kỷ, Toyota đã chứng tỏ mình có khả năng nắm bắt thị hiếu của khách hàng rất tốt và thậm chí còn tốt hơn các hãng ô tô ở Detroit, dù họ không có lợi thế sân nhà.

4. Nói không với sự lãng phí

d2

Toyota – Nói không với sự lãng phí

Nguyên tắc “liên tục cải tiến” của Toyota đã trở thành huyền thoại trong ngành công nghiệp sản xuất xe hơi. Tuy nhiên, bí mật thực sự đằng sau thành công của Toyota chính là tuyên bố nói “không” hùng hồn với các hình thức lãng phí, bất kể là lãng phí thời gian, vật liệu hay kể cả những mảnh vụn, mảnh rác trên sàn nhà máy. Đây cũng là một đặc điểm trong thương hiệu của Toyota.

5. Nói có với sự khiêm nhường

Văn hóa làm việc của Toyota là tập trung vào tập thể thay vì cá nhân. Nguyên tắc tuyển dụng của Toyota dựa trên việc cá nhân đó sẽ thích nghi với văn hóa của Toyota như thế nào hơn là kỹ năng của họ. Công nhân được truyền đạt tư tưởng: “phải đặt bản thân mình sau các lợi ích của nhóm cũng như khách hàng”. Tại Toyota, sếp có vai trò như người hỗ trợ chứ không phải người quản lý và họ thường xuất hiện ở các dây chuyền lắp ráp để quan sát và đánh giá.

6. Đánh giá cao hoạt việc hoạt động theo dây chuyền

 

d3

Có trách nhiệm trong việc phát hiện và xử lí vấn đề

Mỗi dây chuyền sản xuất đều được trang bị một sợi dây và bất cứ nhân viên nào cũng có thể kéo để tạm ngừng cả dây chuyền khi họ phát hiện ra một vấn đề. Lúc đó, Toyota phải có biện pháp xử lý nhanh chóng và nghiêm túc vấn đề ấy. Điều này cũng được áp dụng với các nhà máy ở Mỹ.

7. Khách hàng là thượng đế

Sự hài lòng của khách hàng là tiêu chí hàng đầu trong chiến lược thương hiệu của Toyota và tất cả các nguyên tắc khác đều dựa trên đó. Ví dụ khi lên kế hoạch sản xuất Lexus và Scion, Toyota đã gửi một nhóm nhân viên tới Mỹ để tìm hiểu về trải nghiệm sử dụng xe hơi của người dùng Mỹ. Sự quan tâm, tôn trọng đối với thị trường và văn hóa của một khu vực đã đưa danh tiếng của Toyota ra toàn cầu chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi nước Nhật.

 Theo brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

 

CÂU CHUYỆN CHIẾN LƯỢC THƯƠNG HIỆU STARBUCKS (PHẦN 2)

Từ quán cà phê nhỏ tại Pike Place – Seattle năm 1971, thương hiệu cà phê lớn nhất thế giới – Starbucks hiện nay đã mở hơn 21.000 cửa hàng tại 65 quốc gia. Có rất nhiều bài học rút ra cho các doanh nghiệp hiện nay xoay quanh câu chuyện chiến lược thương hiệu Starbucks.

7. Social Media – Một bước tiến mới mà ta phải hòa nhập

Chúng ta đều đồng ý rằng mạng xã hội đang đóng vai trò quan trọng trong quảng cáo và marketing hiện đại. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng tối ưu hóa được hiệu quả của chúng.

 

A1

Starbucks chọn đúng mạng xã hội để gắn kết các khách hàng mục tiêu

Starbucks trong nhiều năm qua đã kiên trì kể câu chuyện chiến lược thương hiệu của mình trên Instagram. Việc chia sẻ hình ảnh đã giúp công ty không chỉ quáng bá cả sản phẩm mới mà còn lan tỏa giá trị Starbucks thông qua các hình ảnh khách hàng thưởng thức cà phê tại cửa hàng cùng bạn bè hoặc kết quả công việc sáng tạo của các nghệ sĩ khi uống cà phê Starbucks.

8. Mọi thứ đều quan trọng

Starbucks chú ý hoàn thiện từng chi tiết nhỏ nhất liên quan đến hình ảnh thương hiệu của mình. Khi một kế toán đề nghị cắt giảm chi phí cho công ty bằng việc thay giấy sử dụng trong nhà vệ sinh từ hai lớp sang một lớp, Starbucks đã từ chối. Vì Starbucks nhận ra rằng việc làm mỏng đi tờ giấy vệ sinh sẽ đối lập với hình ảnh nhận diện thương hiệu “sang trọng với giá cả phải chăng” mà họ đã đặt ra.

9. Đối tác tin cậy

 

A2

Starbucks hợp tác cùng Apple cho phép khách hàng trả tiền khi nghe nhạc từ  iTunes

Trong nhiều năm kinh doanh, Starbucks có lượng đối tác khổng lồ để mở rộng mạng lưới. Ví dụ, Starbucks đã hợp tác với cửa hàng bán sách nổi tiếng thế giới là Barnes & Noble vào năm 1993 để cung ứng cà phê tại các cửa hiệu sách của thương hiệu này. Công ty cũng liên kết với các tổ chức như Hội chữ thập đỏ Mỹ, Global Green USA và Save the Children trong các chiến dịch thực hiện trách nhiệm xã hội.

Tùy vào mục tiêu đề ra mà doanh nghiệp cần chọn đúng đối tác phù hợp trong từng lĩnh vực. Vì chỉ có hợp tác mới mang đến lợi ích cho cả hai bên.

10. Nhất quán trong kinh doanh

Đây là yếu tố quan trọng để duy trình sự trung thành của khách hàng với thương hiệu. Nếu bạn mang đến cho khách hàng một trải nghiệm độc đáo bằng dịch vụ của mình trong lần đầu tiên sử dụng, họ sẽ mong đợi được như vậy trong những lần sau.

Starbucks đảm bảo chất lượng của mọi sản phẩm cung ứng đều đồng nhất tại mọi cửa hàng của mình.

11. Địa phương hóa sản phẩm

Bên cạnh giữ chất lượng đồng nhất, điều quan trọng trong mô hình kinh doanh chuỗi là bạn phải địa phương hóa các sản phẩm của mình cho phù hợp với từng vị trí đặt cửa hiệu kinh doanh. Đối với Starbucks, một ly cà phê sữa ở mọi khu vực bờ biển là như nhau, nhưng tùy mỗi nơi lại có những cải biến cho phù hợp thị hiếu khách hàng khu vực.

Chiến lược thương hiệu của Starbucks nhấn mạnh vào hình ảnh một thương hiệu mang tính địa phương hóa. Điều này hoàn toàn phù hợp với tiêu chí mang đến trải nghiệm thân thuộc cho mỗi người dùng khi đến thưởng thức cà phê Starbucks.

12. Chọn lãnh đạo phù hợp

Image: Starbucks CEO Howard Schultz

Howard Schultz – nhà lãnh đạo cứu nguy kịp thời cho Starbucks

Vào năm 2007, doanh thu của Starbucks bị sụt giảm mạnh. Howard Schultz đã nhận ra rằng Công ty đã đi lệch ra khỏi định hướng chiến lược kinh doanh ban đầu. “Tối đa hóa lợi nhuận đã trở thành mục tiêu chính trong kinh doanh, trong khi mục tiêu của Starbucks là tối đa hóa trải nghiệm cá nhân cho khách hàng”, ông cho biết.

Giải pháp của Schultz trong thời điểm đó là tập hợp 10.000 quản lý của tất cả các cửa hàng về một hội nghị tổ chức suốt 4 ngày tại New Orleans. Trong khoảng thời gian này, Schultz đã xác lập lại mục tiêu, truyền cảm hứng và đặt ra các thách thức cho các nhân viên. Kết quả là 10.000 quản lý này khi trở về đã tạo nên làn sóng thay đổi trong phong cách phục vụ khách hàng. Đến năm 2013, lợi nhuận quay trở lại với Starbuckss.

Điều này cho thấy tầm quan trọng của một nhà lãnh đạo sáng suốt, và chấp nhận thay đổi sẽ kịp thời giải cứu doanh nghiệp khỏi thất bại.

Theo brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

 

CÂU CHUYỆN CHIẾN LƯỢC THƯƠNG HIỆU STARBUCKS (PHẦN 1)

Có rất nhiều bài học rút ra cho các doanh nghiệp hiện nay xoay quanh câu chuyện chiến lược thương hiệu Starbucks. Từ quán cà phê nhỏ tại Pike Place – Seattle năm 1971, thương hiệu cà phê lớn nhất thế giới – Starbucks hiện nay đã mở hơn 21.000 cửa hàng tại 65 quốc gia.

1. Tuân thủ sứ mệnh đặt ra

Trong suốt hơn 4 thập kỷ, sứ mệnh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng cho cộng đồng luôn được Starbucks tuân thủ. Thông qua định vị thương hiệu rõ ràng: Starbucks không chỉ là một quán cà phê đơn thuần mà còn là nơi để khách hàng tạm trốn khỏi những lo toan của công việc thường ngày để đến với không gian thưởng thức cà phê độc đáo. Ngoài ra, cửa hàng còn trở thành trung tâm của những cuộc hội họp bạn bè hoặc đàm phán công việc cho các doanh nhân.

2. Luôn lắng nghe và tìm cách thấu hiểu khách hàng

 

ho0

Nhân viên Starbucks luôn chú ý lắng nghe và tìm cách thấu hiểu khách hàng

Có một thủ thuật đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả trong dịch vụ chăm sóc khách hàng mà những người kinh doanh dịch vụ đều biết, đó là thăm hỏi khách hàng đang tìm kiếm điều gì và nhiệt tình giúp đỡ họ. Các nhân viên của Starbucks cũng được huấn luyện để góp phần không nhỏ xây dựng nên hệ thống nhận diện thương hiệu Starbucks – đến Starbucks vào bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, bạn đều được quan tâm.

Khi bạn tìm hiểu được nhu cầu tìm kiếm hiện tại của khách hàng, bạn có thể cùng người đó tìm ra những lựa chọn phù hợp cho bản thân. Điều này giúp gia tăng sự gắn kết của khách hàng với doanh nghiệp mình.

3. Hiểu khách hàng, hiểu cả nhân viên

Như đã đề cập ở trên, nhân viên góp phần không nhỏ giúp bạn chuyển tải những giá trị trong dịch vụ đến khách hàng. Vì vậy, bạn cần phải thấu hiểu cả nhân viên. Khi đã hiểu, bạn sẽ khai thác được những khả năng tiềm ẩn của họ và điều này góp phần rất lớn trong thành công của mỗi doanh nghiệp. Ví dụ minh họa rõ nhất cho điều này là dòng sản phẩm độc quyền Frappuccino của Starbucks là sáng tạo của một nhân viên tên Dina Campion.

4. Sáng tạo không ngừng

 

Google_Starbucks1375329355

Starbucks đã bắt đầu cung ứng dịch vị Wifi miễn phí từ năm 2010

Starbucks không chỉ được xây dựng dựa trên chiến lược thương hiệu rõ ràng ban đầu, mà còn là nơi phát huy mạnh mẽ sự sáng tạo. Khi nhận ra rằng khách hàng có nhu cầu chế biến cà phê tại nhà, Starbucks đẩy mạnh cung ứng bộ cà phê pha sẵn mang tên Via và hệ thống máy pha cà phê Verismo. Hiện nay, Công ty còn cho phép khách hàng trả tiền qua ứng dụng của iPhone. Đây là công ty đầu tiên áp dụng công nghệ này trong thị trường kinh doanh dịch vụ cà phê tại Mỹ.

Duy trì những yếu tố cốt lõi truyền thống là tốt, nhưng hãy đủ linh hoạt để chấp nhận và chào đón các xu hướng  mới để thích nghi với môi trường kinh doanh đang không ngừng thay đổi.

5. Hãy có trách nhiệm

Trong cung cấp dịch vụ, thỉnh thoảng ta luôn mắc một số sai lầm như ghi nhầm thức uống, tính nhầm hóa đơn,… Điều tạo nên khác biệt giữa các đơn vị chính là khả năng nhanh chóng nhận lỗi và sửa sai đối với khách hàng.

Bạn cần đảm bảo là đã tập huấn cho nhân viên đủ linh hoạt để xử lý có trách nhiệm trong các tính huống nhầm lẫn đáng tiếc.

6. Đi ngược lại đối thủ cạnh tranh

Bạn sẽ nhận ra rằng Starbucks có mặt ở hầu hết các ngã tư trong những thành phố mà thương hiệu này xuất hiện. Điều này là một trong những yếu tố xây dựng chiến lược thương hiệu Starbucks.

Thay vì chỉ tập trung vào những khu vực đông dân cư, những khu vực có xuất hiện đối thủ cạnh tranh, Starbucks chọn có mặt tại hầu hết các ngã tư có thể thuê được mặt bằng, điều này góp phần tạo nên hệ thống nhận diện thương hiệu Starbucks. Việc này có thể gây lên áp lực trong chi phí đầu tư nhưng lại giúp Starbucks hạn chế được tối đa cơ hội của các đối thủ cạnh tranh khác.

Các quyết định đi ngược lại đối thủ tuy đầy mạo hiểm nhưng cũng mang lại giá trị lợi nhuận lớn hơn gấp nhiều lần nếu chúng ta biết khai thác lợi thế cạnh tranh này.

Theo brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

QUẢNG NINH XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU BẰNG…NỤ CƯỜI

Cuối năm 2014, cư dân mạng liên tục chia sẻ những đường link về hình ảnh 9 vị lãnh đạo cấp cao của tỉnh Quảng Ninh cùng xuất hiện trong một clip phát động chiến dịch xây dựng “Nụ cười Hạ Long”.

Trong cùng một tư thế: hai tay khum lại tạo hình trái tim và trên môi nở nụ cười, các chính trị gia của Quảng Ninh mong muốn gửi gắm đến cộng đồng một thông điệp về “Nụ cười Hạ Long”. Chiến lược xây dựng thương hiệu bằng nụ cười đã được nhiều người chú ý đến.

87

“Hạnh phúc và thành công cho ta nụ cười. Song, cười lên, ta có cả hạnh phúc, thành công và niềm tin”,  bà Đỗ Thị Hoàng, Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy Quảng Ninh đã mở đầu clip này bằng lời khẳn định chân thành.

Xuấn hiện tươi tắn trong clip, bà Vũ Thị Thu Thủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, bộc bạch: “Quảng Ninh tự hào với truyền thống mến khách. Hãy nở nụ cười rạng rỡ với những hàng động thân thiện để chào đón du khách tới với Quảng Ninh và hẹn ngày trở lại, bằng cách tham gia chương trình Nụ Cười Hạ Long”.

Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Quảng Ninh Hà Quang Long là nhân vật thứ 10 xuất hiện trong clip. Đây cũng là vị quan chức duy nhất đại diện cho cấp sở ngành đươc “ưu tiên” góp mặt cùng 9 vị lãnh đạo tỉnh để nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của “nụ cười” trong lĩnh vực mà vị này đang phụ trách. Ông Long nói: “Nhiệt tình tham gia chương trình “Nụ cười Hạ Long” là thiết thực góp phần mời gọi du khách tới với tỉnh Quảng Ninh, đồng thời còn là một hoạt động văn hóa để xây dựng nếp sống văn hóa mới: văn minh, thân thiện. Du lịch Quảng Ninh đón chào quý khách bằng nụ cười và trái tim”.

Sẽ chọn Hạ Long là thương hiệu du lịch Quốc gia

Trong tọa đàm “Doanh nghiệp đồng hành cùng di sản” vào chiều ngày 1.11, ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam cho rằng: hiện Tổng cục Du lịch đang chủ trương  xây dựng và định vị Hạ Long trở thành thương hiệu du lịch của Quốc gia, vì Hạ Long hội tụ đầy đủ và hoàn hảo nhất các yếu tố để trở thành thương hiệu du lịch Quốc gia.

“Nói đến Campuchia người ta nói đến Angkor Wat, nói đến Pháp là người ta nhắc đến tháp Eiffel, đến Trung Quốc nghĩ đến Vạn Lý Trường Thành thì sắp tới, nhắc đến Việt Nam, người ta sẽ nghĩ ngay đến Hạ Long”, ông Tuấn chia sẻ. Với “Nụ cười Hạ Long”, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Đọc cho rằng: đây là sự khởi đầu trong chặng đường xây dựng chiến lược thương hiệu cho Hạ Long và của cả Quảng Ninh.

Được biết, chương trình này đặt mục tiêu thay đổi nhận thức, hành vi, ứng xử từ chính mỗi con người, bắt đầu từ lãnh đạo cao nhất rồi lan tỏa đến bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp; xuống đến từng khu phố, ngõ xóm rồi từng hộ gia đình và đến từng người dân. Mục tiêu này nhằm xây dựng định vị thương hiệu du lịch Quảng Ninh – chuẩn mực về một vùng đất du lịch và đầu tư lý tưởng.

Ngay sau khi chương trình được chính thức phát động trong Lễ kỷ niệm 20 năm vịnh Hạ Long đón nhận danh hiệu Di sản thiên nhiên thế giới vào tối 1.11, không ít người dân Hạ Long  tỏ vẻ ngạc nhiên và thú vị trước “hình ảnh mới” của các chính trị gia tỉnh nhà. Tuy nhiên, muốn được như vậy, ngay từ bây giờ, Quảng Ninh phải bắt tay ngay vào việc xây dựng chiến lược thương hiệu Hạ Long bằng cách tạo dựng thương hiệu du lịch thân thiện, hấp dẫn.

“Từ trước tới giờ, tôi thấy quan chức luôn nghiêm trang và có vẻ khó gần, đôi khi còn tạo cho người đối diện tâm lý e dè, nể sợ. Nhưng xem clip này, tôi bắt đầu thay đổi dần quan điểm. Họ thân thiện và gũi hơn chúng tôi tưởng. Quan chức họ còn niềm nở như vậy, người dân như chúng tôi càng không có lý do gì để mà không mỉm cười. Vì nụ cười là thứ không cần bỏ tiền đầu tư và cũng không mua được bằng tiền”, chị Nguyễn Thu Thúy, 32 tuổi, phấn khởi nhận xét.

Theo thanhnien.com.vn

Biên tập bởi Brand2

THƯƠNG HIỆU CHÂU Á VÀ CÁI NHÌN SAI VỀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

Tôi đã xem qua một bài viết đăng trên blog của trường kinh doanh Insead mà hỏi những câu hỏi, “Trường hợp được tất cả các thương hiệu châu Á toàn cầu?” Tác giả, nhà chiến lược thương hiệu Martin cuốn lập luận rằng ‘các công ty thị trường mới nổi đã nắm lấy thị phần bằng cách làm việc nhanh hơn và rẻ hơn . ‘ Ông cũng cho rằng những công ty châu Á bây giờ cần phải xây dựng thương hiệu để cạnh tranh. Tôi không thể tranh cãi với một trong hai.

sony-xperia-curve-concept_1

Trong bài báo, ông nói rằng hầu hết các công ty Châu Á tin rằng xây dựng thương hiệu là về logo và quảng cáo. Tuy nhiên, xây dựng thương hiệu phải tạo ra giá trị cho khách hàng nếu họ đang đi để tồn tại và phát triển trong trật tự thế giới mới. Một lần nữa, tôi không thể tranh luận với điều này và đây là điều còn thiếu của các thương hiệu mạnh ở Châu Á.

Martin cho biết đây là vì bốn lý do chính khiến các doanh nghiệp Châu Á khó xây dựng thương hiệu thành công:

1) Thiếu cách tiếp cận về kinh doanh mà dựa nhiều vào quan hệ
2) Sự phổ biến của các doanh nghiệp nhỏ ở Đông Nam Á mà thích chiến thắng ngắn hạn hơn lợi nhuận dài hạn
3) Pháp luật yếu kém và thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
4) Các truyền thống, gia đình dựa, cấu trúc phân cấp của các doanh nghiệp ở Châu Á mà không đánh giá cao tầm quan trọng của tài sản vô hình.

Không phải là một thương hiệu Sony châu Á toàn cầu?

Tuy nhiên, tôi tin rằng điều này chủ yếu là do nhu cầu đã vượt quá cung và như là một kết quả xây dựng thương hiệu không phải là một ưu tiên. Có có những vấn đề về cơ cấu trong nhiều công ty châu Á và họ sẽ được phát hiện ra tuy nhiên, nhiều công ty châu Á là khá nhanh nhẹn và tôi tự tin rằng họ đang bắt đầu thay đổi, đặc biệt là khi các thương hiệu phương Tây tìm đến châu Á là thị trường riêng của họ bị đình đốn.

Bây giờ tôi không muốn bị buộc tội là mô phạm và tôi không biết định nghĩa của một thương hiệu Châu Á Martin là gì nhưng chắc chắn chúng tồn rất nhiều các thương hiệu Châu Á toàn cầu từ các ngành hàng không, ô tô, giao thông vận tải, dầu khí, giải trí, du lịch , ngân hàng, bất động sản, công nghệ và các lĩnh vực khác.

Chang tài trợ Everton và Liverpool Football Clubs

Hãy suy nghĩ của tất cả các quốc gia có thương hiệu và các hãng hàng không quốc gia của họ. Rất nhiều LCCs, Proton, Haier, Sony, Petronas, du lịch trên biển Star, YTL, Alibaba, Temasak, DBS, Maybank, SingTel, bia Tiger, Brands, Sampoerna, Lenovo, Jardines, Zalora, Chang Beer, Red Bull.

Điều gì là quan trọng hơn trong tâm trí của tôi là các công ty đã trở thành thương hiệu toàn cầu trong một nền kinh tế không còn tồn tại. Trường hợp, xã hội, hệ sinh thái văn hóa và truyền thông chính trị rất khác với những gì nó là ngày hôm nay.

Sự nguy hiểm công ty Châu Á đối mặt không phải là một trong những quán tính hay sợ nó là một trong những cách sử dụng các công cụ sai và kỹ thuật để thử và xây dựng thương hiệu của mình. Để thách thức các nhãn hiệu châu Á được thành lập và cạnh tranh với nhiều tiền mặt công ty phương Tây và ngân sách tiếp thị khổng lồ của họ, các thương hiệu mới nổi của Châu Á như ZTE, TCL, CIMB, Hisense, Xiaomi, Ogawa, HR, Oppo, và nhiều những thương hiệu khác nữa sẽ cần tập trung vào việc cung cấp giá trị kinh tế, trải nghiệm khách hàng và giá trị cảm xúc.

Xiaomi – cung cấp giá trị ở mọi touchpoint nhưng chi tiêu rất ít trên phương tiện truyền thông truyền thống

Công ty châu Á phải nhạy bén, nhanh nhẹn và sẵn sàng tiếp nhận các công nghệ mới và khuyến khích khách hàng của họ là một phần của DNA của thương hiệu. Chỉ khi đó chúng ta sẽ tiếp tục thấy các thương hiệu Châu Á vươn lên những tầm cao mới.

Biên dịch bởi: Brand2asia

CÁC THƯƠNG HIỆU NỔI TIẾNG KHỞI NGUỒN TỪ SẢN PHẨM QUÂN SỰ (PHẦN 1)

Rất nhiều các thương hiệu lớn với nhận diện thương hiệu được biết đến rộng rãi khởi nguồn từ các sản phẩm cho quân đội hoặc cung cấp các sản phẩm nổi tiếng trong thời chiến.

1. Adidas và Puma:

Sáng lập nên Adidas và Puma là 2 anh em (Adi và Rudolf) – đều là đối tác tại công ty Giày Dassler Brothers Sport Shoe trong những năm 1920 và thậm chí cung cấp cả giày cho vận động viên điền kinh người Mỹ gốc Phi Jesse Owens – 4 lần giành huy chương vàng – trong Thế vận hội Olympics 1936.

adidas_logo

Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa 2 người ngày càng gay gắt – lên đến đỉnh điểm trong Thế chiến thứ hai khi Quân đồng minh ném bom Herzogenaurach. Adi được cho là đã nói “Những kẻ chết tiệt đang quay lại” khi ông cùng vợ chạy vào nơi trú bom – trong đó Rudi và vợ ông đang trú nấp. Rudi nghĩ rằng câu nói này ám chỉ mình và khi mẫu thuẫn ngày một tăng, 2 người quyết định chia tách công ty vào năm 1945. Adi đặt tên công ty của ông là Adidas, còn Rudi đặt tên công ty là Puma. Ngày nay, Adidas và Puma là hai thương hiệu hàng đầu trên thế giới có độ nhận diện và yêu thích rất cao trong mắt người tiêu dùng.

2. Xe Jeep

h1

Những chiếc Jeep đầu tiên được sản xuất năm 1941, nhằm mục đích để phục vụ quân đội. Willys MB Jeeps trở thành loại xe 4WD sử dụng phổ biến nhất của quân đội Mỹ trong

3. Điện thoại Vodafone

vodafone_logo

Chiếc điện thoại Vodafone ra đời trong những năm 1980, khởi điểm là công ty con của Racal Electronics – nhà sản xuất công nghệ radio quân sự lớn nhất của Anh quốc những năm đó. Racal cũng từng là công ty điện tử lớn thứ 3 của Anh. Đây là điện thoại di động đầu tiên của Vodafone, Mobira Transportable, có trọng lượng 11 pound. Qua thời gian, Vodafone đã lớn mạnh và trở thành một trong những thương hiệu được nhận diện rất tốt trên thị trường thế giới.

4. Kính RayBan

cach-phan-biet-kinh-rayban-that-gia-Copy

Ray-Ban Aviator được đánh giá là gọng kính mát phổ biến nhất thế giới hiện nay. Bausch & Lomb đã phát triển mẫu kính này sau khi được Thiếu tướng Không lực Mỹ đề nghị sản xuất loại kính mát giúp phi công giảm tình trạng buồn nôn và đau đầu đi đang bay ở độ cao nhất định. Mẫu kính ban đầu được thiết kế vào năm 1936 và có mắt kính màu xanh lá cây – có tác dụng giảm chói nhưng không ảnh hưởng đến tầm nhìn của phi công.

Theo: http://cafebiz.vn/quang-cao-thuong-hieu/nhung-thuong-hieu-noi-tieng-khoi-nguon-tu-san-pham-quan-su-20150504083439187.chn

Biên tập bởi Brand2