Category: Digital marketing

ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU CỦA CÁC CÔNG TY SỮA

Hiện nay, trên thị trường tràn ngập các định vị thương hiệu sữa nội lẫn ngoại với vô số chiến lược marketing. Hằng ngày, nó tác động đến người tiêu dùng dưới nhiều hình thức từ outdoor đến TVC, từ tờ rơi, poster đến quảng cáo báo in, báo điện tử,… Vậy có một câu hỏi đặt ra là, tại sao một người mẹ lại chọn mua sữa thương hiệu A mà không phải là sữa B, khi chất lượng và giá cả không chênh lệch đáng kể?

11

ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU CÔNG TY SỮA

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nói đến việc định vị thương hiệu của các công ty. Việc giúp cho người tiêu dùng ghi nhớ được thương hiệu cũng như thông điệp sản phẩm và để nhận diện thương hiệu là một điều không đơn giản. Giải pháp của các công ty sữa là họ sẽ định vị thương hiệu (Brand Positioning) và xây dựng tính cách riêng của thương hiệu (Brand Personality) hay thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu một cách nhất quán.

Định vị thương hiệu là một khái niệm mới ra đời vào khoảng đầu thập niên 1970. Các công ty sữa định vị thương hiệu của mình qua 4 chiến lược chính như lựa chọn định vị rộng cho thương hiệu, lựa chọn định vị đặc thù, lựa chọn định vị giá trị và tổng giá trị đối với thương hiệu sản phẩm.

Mỗi một sản phẩm, một nhãn hiệu hay ngành hàng (sữa bột, sữa đặc, sữa nước, và sữa chua) đều được áp dụng một cách riêng biệt, nhưng cũng đi theo một chiến lược định vị thương hiệu chung của cả công ty.

Định vị rộng cho thương hiệu sản phẩm

12

ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU CÔNG TY SỮA

Thông thường, các doanh nghiệp không đủ tiềm lực tài chính để dẫn đầu trong toàn bộ các lĩnh vực, vì vậy họ cần phải tập trung nguồn lực của mình vào một số lĩnh vực để dẫn đầu trong lĩnh vực đó. Có 3 cách lựa chọn định vị thương hiệu rộng mà người ta phải chú ý, bao gồm:

  • Trở thành nhà sản xuất sản phẩm độc đáo phân biệt với các sản phẩm khác: Điển hình là thương hiệu Dutch Lady. Năm 2006, nhãn hàng Friso Gold của công ty sữa Dutch Lady tăng cường miễn dịch cho trẻ em, tạo đột biến về sản phẩm sữa, làm cho những nhãn hàng theo sau như Dumex Gold và sữa mới Arla của Đan Mạch không thể địch nổi.

Cũng lựa chọn phương pháp định vị thương hiệu này, LachiFood đã sản xuất ra những sản phẩm sữa bột cũng dành cho trẻ em, nhưng có sự phân biệt sữa của bé trai và sữa của bé gái, với nhãn hiệu LachiEQ của mình. Công ty Vinamilk thì chọn sữa đậu nành Soya độc đáo.

  • Dẫn đầu về giá thành thấp nhất: Điển hình là Công ty sữa NutiFood đã chọn cách thức định vị thương hiệu này cho sản phẩm sữa bột Nuti của mình. Nuti vừa có thêm loại 20g với giá cực rẻ (với dung lượng nhỏ) cũng kiếm được rất nhiều thị phần ở khu vực vùng nông thôn và bên cạnh những khu công nghiệp.

  • Khai thác thị trường chuyên biệt hay trở thành người phục vụ các thị trường chuyên biệt: Điển hình là thương hiệu Anlene của công ty Fonterra – thị trường chuyên biệt trong ngành sữa thường là dinh dưỡng cho người lớn tuổi và dinh dưỡng dành cho theo bệnh lý như (suy dinh dưỡng, bệnh lý…). Hiện nay, Anlene đã chiếm đến 80% thị phần trong ngành hàng chuyên biệt này.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn tồn tại trường hợp một số doanh nghiệp có thể dẫn đầu trên cả hai lĩnh vực. Trong ngành sữa – một ngành dinh dưỡng – thì hai lĩnh vực sản phẩm độc đáo và sản phẩm chuyên biệt là hai lĩnh vực mà một công ty kinh doanh lưu tâm. Muốn có được điều này thì bộ phận R&D (nghiên cứu và phát triển) của công ty đó phải mạnh, cũng như bộ phận marketing phải tư vấn chiến lược marketing và hoạt động nổi trội trong ngành hàng của mình.

Định vị đặc thù cho thương hiệu sản phẩm

13

Abbott chuyển sang định vị thương hiệu “sữa số 1 Việt Nam”

Nhiều công ty tìm cách định vị lợi ích chính đáng duy nhất trong số các khả năng: chất lượng tốt nhất; kết quả tốt nhất; uy tín nhất; sử dụng bền nhất; an toàn nhất; nhanh nhất; dễ sử dụng nhất; thuận tiện nhất; kiểu dáng đẹp nhất; hoặc phong cách nhất.

Trong ngành sữa của Việt Nam hiện nay, Abbott định vị thương hiệu như là “sữa bột tăng cường IQ cho trẻ”, tuy nhiên do sự tấn công khá quyết liệt của đối thủ cạnh tranh mà định vị đó trở nên lỗi thời, vì vậy năm vừa rồi Abbott chuyển sang định vị thương hiệu cũng như hệ thống nhận diện thương hiệu là “sữa bột số 1 Việt Nam”.

Vinamilk định vị thương hiệu “chất lượng quốc tế” để nhắc nhở cho người tiêu dùng Việt Nam thấy Vinamilk là công ty duy nhất của Việt Nam xuất khẩu sản phẩm sữa sang hơn 10 nước trên thế giới, tuy nhiên thời gian gần đây Vinamilk cũng dần chuyển sang định vị thương hiệu đơn giản “mẹ yêu bé”.

NutiFood thì định vị thương hiệu là “vì tương lai Việt” để khẳng định mình là sản phẩm sữa thuần Việt nhất. Mead Johnson thì định vị “gia đình Enfa A+” để khẳng định họ chỉ tập trung vào phân khúc trẻ em với những vi chất cần thiết cho trẻ. Nestlé đơn giản là “cùng mẹ yêu bé” để định vị chung cho sữa và thực phẩm của công ty.

Các công ty thường có xu hướng muốn kéo các phân khúc thị trường lại với nhau thay vì chỉ tập trung vào một phân khúc. Ví dụ, Dutch Lady do có nhiều phân khúc nên họ định vị thương hiệu “sẵn sàng một sức sống” cho dòng sữa nước, và “cùng bé yêu khôn lớn” khẳng định sự đa dạng sản phẩm của mình cho mọi lứa tuổi và nhằm tách khỏi thông điệp IQ được rất nhiều nhãn hiệu sữa lựa chọn.

Định vị giá trị cho thương hiệu sản phẩm

14

Người tiêu dùng thường cho rằng đồng tiền họ bỏ ra để sở hữu một hàng hóa phải xứng đáng với giá trị của nó. Vì vậy, trong định vị thương hiệu, các công ty thường định vị một cách an toàn để người mua lượng hóa được chi phí họ bỏ ra để có được một giá trị hữu dụng thỏa đáng. Trong ngành sữa, giá trị hữu dụng đó chính là dinh dưỡng cho người tiêu dùng và người thân của họ.

  • Đắt tiền hơn để có chất lượng tốt hơn:

Những công ty thường xuyên nâng cấp sản phẩm sữa của mình có giá trị dinh dưỡng cao hơn sản phẩm hiện tại. Khi sản phẩm hiện tại có giá trị được định vị thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng cao thì việc định vị sản phẩm mới hoàn toàn thuận lợi. Một loạt nhãn hiệu được nâng cấp như Friso lên Friso Gold, 123 456 nâng cấp với TT ratio của Dutch Lady, Dumex nâng cấp thành Dumex Gold của Dumex, Dielac lên Dielac Alpha có sữa non colostrum của Vinamilk. Những sản phẩm này tượng trưng cho phong cách sống cao hơn, riêng biệt hơn.

  • Giữ nguyên giá nhưng chất lượng cao hơn:

Nếu như các sản phẩm hiện tại có giá trị định vị thương hiệu thấp thì thường các công ty sử dụng hình thức định vị giá trị cao hơn nhưng giữ nguyên giá. Rõ nét nhất là Vinamilk khi họ định vị dòng sữa tiệt trùng và sữa chua của họ. Nhãn hiệu YoMilk được làm mới nhưng giá vẫn không đổi trong một thời gian dài.

  • Giữ nguyên chất lượng nhưng giá rẻ hơn:

Có nhiều công ty giữ nguyên chất lượng nhưng nâng cao số lượng, để giá đơn vị rẻ hơn, hoặc thiết kế nhận diện thương hiệu với bao bì nhỏ hơn. Nhãn hiệu Enfa của Mead Johnson tăng gấp đôi dung lượng từ 900g lên 1,8kg giá đơn vị rẻ hơn, hoặc Nuti có bao bì 20g giá chấp nhận được cho giới bình dân. Việc nâng cao số lượng phổ biến nhất là từ bao bì sữa 450g hoặc 400g lên 900g vì dễ bảo quản cũng như không vượt ngưỡng giá dành cho khách hàng mục tiêu.

Do đặc thù của ngành mà không một công ty sữa nào dám giảm chất lượng sữa của mình, đổi lại là giá rẻ đi rất nhiều, hoặc chất lượng cao hơn song giá thành rẻ hơn.

Dịch vụ hậu mãi nâng tổng giá trị cho thương hiệu sản phẩm

15

Tháng 4/2015 vừa qua, Dutch Lady tổ chức thành công “Ngày hội nông trại gia đình” quy tụ các gia đình nổi tiếng của Showbiz Việt và rất đông khán giả tham dự

Không những bán sản phẩm, các công ty sữa đều tập trung định vị dịch vụ hậu mãi của mình, làm cho giá trị hữu dụng của sản phẩm sữa tăng cao thêm.

Phổ biến nhất là lập các câu lạc bộ, cũng như trại tư vấn sức khoẻ miễn phí như Enfa A+ của Mead Johnson, Anlene của Fonterra, Calcimex của Dutch Lady, Gain Advance IQ của Abbott… Cũng có một số công ty thành lập hẳn một trung tâm dinh dưỡng như Vinamilk, Dutch Lady, cá biệt có Dutch Lady lập hẳn một đường dây nóng chuyên tư vấn dinh dưỡng thường xuyên cho khách hàng của mình.

Chính những chiến lược marketing cũng như định vị thương hiệu trên đã giúp cho các nhãn hiệu sữa có bước đi mạnh bạo hơn, nhưng có về đích hay không lại là một chuyện khác. Muốn có những bước đi mạnh bạo và có con đường riêng, doanh nghiệp cũng cần phải có tầm nhìn thương hiệu (Brand Vision) rõ ràng để toàn công ty cùng theo đó mà đi theo.

Theo Vneconomy

Biên tập bởi Brand2

 

TƯ VẤN CHIẾN LƯỢC MARKETING: WALT DISNEY DƯỚI GÓC NHÌN MARKETING (PHẦN 3)

Tiếp theo bài viết về tư vấn chiến lược Walt Disney – bên cạnh óc marketing thiên tài thì điều làm nên sự vĩ đại của Walt Disney trong ảnh hưởng xã hội, kinh doanh cũng như marketing là…

3. Chiến lược kinh doanh theo “chuỗi giá trị”

Khi sở hữu những “nhân vật” tầm cỡ như chuột Mickey, vịt Donald hay sau này là thuyền trưởng Jack Sparrot, bản thân Walt Disney và công ty ông đã tuyên bố: “Tôi sẽ không để lợi nhuận từ những nhân vật của mình giới hạn trong bất kỳ hình thức kinh doanh nào”. Và Walt Disney đã mở rộng kinh doanh cũng như mở rộng nhượng quyền thương hiệu mà không cần bất cứ chiến lược marketing rầm rộ nào.

Chuột Mickey là thương hiệu tiên phong trong việc nhượng quyền – hình ảnh Mickey xuất hiện khắp nơi – từ que kem, đến cặp sách, nón, bánh, … Hai năm sau khi ra đời, kem Mickey đã bán được 1,000,000 cây tại Mỹ – mang về lợi nhuận 0,5 USD/cây kem cho Walt Disney. Chuột Mickey dường như đã trở thành một hình ảnh để nhận diện thương hiệu của Walt Disney. Tại Việt Nam hiện nay có 2 doanh nghiệp đang mua bản quyền hình ảnh của Walt Disney là công ty nước đóng chai Sapuwa và doanh nghiệp bánh kẹo ABC (tách ra từ Đức Phát) với chi phí hàng trăm ngàn USD mỗi năm.

ww

tư vấn chiến lược walt disney

“Tôi sẽ không để lợi nhuận từ những nhân vật của mình giới hạn trong bất kỳ hình thức kinh doanh nào” – Walt Disney tuyên bố

Để mở rộng đường cho những nhân vật của mình tiến vào thế giới thật, Walt Disney cho xây dựng Disney Land – và sau này là Disney World, là “công viên giải trí” đầu tiên tại Mỹ và cũng là đầu tiên trên thế giới. Disney Land được định vị thương hiệu không chỉ là một công viên giải trí, mà còn là một “Walt-Mart” của các sản phẩm mang thương hiệu Disney và một loạt những dịch vụ đi kèm. Những siêu sao như Britnet Spears, Christina Aguilera hay Justin Timberblank đều xuất thân từ “Mickey club” – một dịch vụ học về nghệ thuật tại Disney Land. Như chính thương hiệu Disney, Disney Land, có hệ thống nhận diện thương hiệu sinh động, đúng là WonderLand – miền đất thần tiên.

Một bước đi được đánh giá là cực kỳ táo bạo của Walt Disney là lập kênh truyền hình “Disney Channel”. Và liệu một kênh truyền hình chỉ có Walt-Disney style có thể thu hút mọi người không? Hầu hết mọi người nói là không – nhưng Walt Disney vẫn rất tự tin.

Và kết quả đã chứng minh là họ đúng, khi Disney Channel là một trong những kênh truyền hình được định vị thương hiệu là dành cho trẻ em được ưa chuộng nhất thế giới. Và từ kênh truyền hình này, những ngôi sao mới của loạt phim truyền hình xuất hiện. Chắc không ai quên được cô bé Hanna Montana đã trở thành hình mẫu của trẻ em thế giới thế nào. Đi sau những bộ phim & loạt phim ấy là những đĩa DVD cho những người hâm mộ, những soundtrack để rót đầy vào Ipod của lũ trẻ, và cả những chuyến lưu diễn ca nhạc vòng quanh thế giới của Hanna Montana. Đó là chưa kể những ảnh hưởng từ phong cách ăn mặc, cách nói chuyện, … đến trẻ em toàn thế giới.

Việc Walt Disney lập Disney Channel như khi Apple giới thiệu App Store vậy. Từ Disney Channel hay App Store, hai công ty trên đã nắm quyền lực tối thượng trong thế giới hiện nay – quyền lợi của kênh phân phối. Rất nhiều người sẽ há hốc mồm khi thương hiệu Apple công bố doanh thu của App Store là 2,000,000 USD mỗi …ngày – trong đó 30% là thuộc về Apple, thì chắc hẳn họ sẽ phải ngất xỉu nếu biết được doanh thu của Walt Disney, nhất là vào trong những mùa cao điểm (sau những mùa “bom tấn”).

Lời kết

Những chiến lược kinh doanh của Walt Disney như đầu tư vào thương hiệu, cụ thể là hệ thống nhận diện thương hiệu, mở rộng kênh phân phối, đi ngược về 2 đầu của chuỗi giá trị,… đều được các tập đoàn hiện nay áp dụng triệt để. Nhưng Walt Disney đã làm điều đó trước họ 50 năm, hay cũng trước Steve Jobs 40 năm. Đằng sau những nụ cười của trẻ thơ trong rạp phim là một đế chế thật sự, vững mạnh và trường tồn. Xin tặng mọi người một câu quote để đúc kết lại bài viết này: “Remember if you see someone on top, they didn’t fall there”.

Theo Brandsvietnam

Biên tập bởi Brand2

CÁC THƯƠNG HIỆU MÌ ĂN LIỀN VỚI CUỘC CHIẾN TỶ ĐÔ

Hiếm có sản phẩm nào có tầm phủ sóng rộng như mì ăn liền, khi tốc độ tăng trưởng của thị trường này tại Việt Nam luôn trong top đầu và tiếp tục tăng.

 Cuộc đối đầu gay gắt của các thương hiệu mì ăn liền

Thị trường mì ăn liền Việt Nam là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Mới đây, Hiệp hội mì ăn liền thế giới cho biết, mức tiêu thụ sản phẩm này tại Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản.

Theo đó, tổng sản lượng thị trường trong nước hiện ở mức khoảng hơn 7 tỷ gói/năm, cùng doanh thu hơn 20.000 tỷ đồng. Trong giai đoạn 4 năm trước đây, thị trường mì ăn liền tăng trưởng tới 24%. Năm 2013, tốc độ tăng trưởng chững lại, chỉ đạt khoảng 5% nhưng thị trường vẫn được xem là “miếng bánh ngon” cho nhiều ông lớn.

zz

Doanh nghiệp Việt không dẫn đầu thị trường mì ăn liền Việt nhưng những ông lớn như thương hiệu Masan, Asia Foods hay Vifon đều khẳng định vị thế của mình. Hiện, Masan Consumer là doanh nghiệp Việt chiếm thị phần cao nhất với tỷ lệ 16,5%. Asia Food chiếm thị phần 12,1%. Vina Acecook, công ty có vốn đầu tư từ Nhật Bản đang dẫn đầu thị trường với thị phần 51,5%. Vina Acecook đang sở hữu hơn 20 nhãn hiệu mỳ… Như vậy, 3 ông lớn của ngành đã nắm giữ hơn 80% thị phần. 20% còn lại dành cho các thương hiệu nhỏ hơn như Miliket – Cosula, Vifon…

Các nhà sản xuất cho biết, khẩu vị ẩm thực của người tiêu dùng ngày nay cũng đa dạng nên sản phẩm phải đáp ứng khẩu vị thì mới được chấp nhận. Điều này cho thấy, cạnh tranh trên thị trường mì ăn liền hiện khá gay gắt. Thương hiệu nào chậm đổi mới về kiểu dáng, chất lượng là sẽ bị loại bỏ ngay. Vì vậy, việc thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu mới cùng chiến lược marketing phải được triển khai liên tục.

Cuộc đua thật sự khốc liệt khi các đại gia không ngừng rót vốn vào sản xuất mì ăn liền. Năm 2012, Vina Acecook đã tăng thêm vốn 10 triệu USD và đưa vào hoạt động hai nhà máy sản xuất mì ăn liền tại TP.HCM có quy mô, công nghệ thuộc loại hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á.

Tăng cường quảng cáo để chiếm lĩnh thị trường

mi goi

Thực tế, việc cạnh tranh trên thị trường mì ăn liền chỉ bùng nổ và một xu hướng phát triển kinh doanh dựa vào chiến lược marketing, tiếp thị hình ảnh, truyền thông thực sự xuất hiện khi liên doanh sản xuất mì Vifon Acecook hình thành vào năm 1993. Cuộc cạnh tranh trên thị trường cũng khá quyết liệt cả giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Trước hết, phải kể đến Vina Acecook, thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực này. Vina Acecook định vị thương hiệu nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng được bảo chứng bởi công nghệ Nhật Bản. Trong khi đó, Vifon lại tạo dựng sức mạnh với định vị thương hiệu từ một thương hiệu lâu đời nhất Việt Nam, và đã chứng thực được niềm tin thông qua mạng lưới xuất khẩu rộng khắp và cả ở những thị trường khó tính, có yêu cầu cao.

Đặc biệt, khi Massan tung ra dòng sản phẩm Omachi thì quả là một bước đột phá trong công nghệ “lăng xê” mì gói. Việc lựa chọn định vị thương hiệu ở phân khúc cấp trung và chuyển tải một thông điệp rất thiết thực “không sợ nóng” là một lựa chọn chiến lược xuất sắc của Massan.

Mì ăn liền Trung Quốc – giá trẻ không còn là ưu điểm

Ưu điểm lớn nhất của hàng Trung Quốc chính là giá rẻ. Nhưng trong thị trường mì ăn liền, giá rẻ không còn là ưu điểm của hàng Trung Quốc nữa, vì các đại gia Việt Nam và Nhật Bản đã lấp đầy mọi phân khúc. Ở phân khúc cao cấp, thương hiệu Masan Consumer chiếm lĩnh với các thương hiệu như Omachi. Ở phân khúc trung cấp có mì Tiến Vua. Phải đối mặt với những ông lớn trên thị trường Việt, mì ăn liền Trung Quốc còn gặp khó khi mang tiếng bởi “đồng nghiệp” ở quê nhà vì sản xuất mì nhiễm độc.

Theo Chất lượng Việt Nam

Biên tập bởi Brand2

TƯ VẤN CHIẾN LƯỢC MARKETING: WALT DISNEY DƯỚI GÓC NHÌN MARKETING (PHẦN 2)

Tiếp theo bài viết về tư vấn chiến lược Walt Disney – bên cạnh óc marketing thiên tài thì điều làm nên sự vĩ đại của Walt Disney trong ảnh hưởng xã hội, kinh doanh cũng như marketing là, …

2. Thương hiệu

Nếu được chọn tài sản có giá trị nhất của Walt Disney thì chắc chắn đó sẽ là thương hiệu. Những bộ phim chỉ cần đóng mác Disney – như một sự nhận diện thương hiệu là đã khiến mọi người háo hức chờ đợi.

Đầu tư vào thương hiệu – theo kiểu của Walt Disney, không hề phù phiếm, không chỉ xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu hay chiến lược thương hiệu theo khái niệm ngày nay – mà còn đầu tư vào chất lượng. “Nếu bạn có một sản phẩm đủ tốt, sẽ luôn có người mua nó” – rõ ràng Walt Disney luôn đặt tiêu chuẩn cao nhất cho những sản phẩm “made-from-Walt Disney”.

Một minh chứng cụ thể nhất là bộ phim “Snow White” – hãy còn được biết đến nhiều với tên gọi “Nàng bạch tuyết”. Bộ phim này được sản xuất vào giữa thế kỷ 20 – và vẫn còn được trình chiếu đến những năm 1990s (40 năm sau khi sản xuất !!!).

maxresdefault

tư vấn chiến lược waltdisney

“Nếu bạn có một sản phẩm đủ tốt, sẽ luôn có người mua nó”

Để hoàn thành bộ phim, các họa sĩ đã phải vẽ đến hơn 2 triệu bức vẽ tay. Bộ phim tiêu tốn tiền bạc một cách khủng khiếp – khiến những ngân hàng cũng phải lo sợ về khả năng thu hồi vốn của bộ phim. Bộ phim đã thành công vang dội khi ra mắt – thu về 8 triệu USD trong tháng đầu tiên sau khi công chiếu (chỉ tại Mỹ – khi vé xem phim của người lớn là 1 USD còn trẻ em là 0,5 USD – tức là có ít nhất 8 triệu lượt người tại Mỹ đã xem bộ phim này). Bộ phim được dịch ra 32 thứ tiếng và tái bản 54 lần trong suốt 40 mươi năm sau. “Cả kinh đô Hollywood sững sờ trước tuyệt tác của tôi” – Walt Disney phấn khích chia sẻ.

Chính những tiêu chuẩn nội bộ hoàn hảo như vậy đã tạo ra những tuyệt tác của điện ảnh và cũng là tiêu chuẩn nhận diện thương hiệu Walt Disney. Chúng ta có thể dễ dàng kể tên rất nhiều bộ phim hoạt hình của Walt Disney (hiện đã ra đến bộ phim thứ 50 – “The Tangled”) – như Lion King, Toy Story, Snow White, Mulan (hoa mộc lan)… song rất khó khăn trong việc kể tên những bộ phim hoạt hình của các hãng đối thủ. “

Đọc đến đây chắc hẳn không ít Business Man tự hỏi: “Liệu quá đầu tư vào chất lượng có phải là một mô hình kinh doanh khả thi vào thời điểm hiện nay”. Câu trả lời sẽ có ngay sau đây: Walt Disney không phải là một nghệ sĩ vĩ cuồng, người chỉ tôn thờ những tác phẩm của mình – mà ông còn là một trong những nhà kinh doanh xuất sắc nhất nước Mỹ và có thể xem là nhà chiến lược marketing đại tài. Với những tuyệt tác phim ảnh của mình, Walt Disney đã và đang nắm trong tay mình một giá trị rất lớn – bản quyền phim ảnh & các nhân vật.

Nếu nhìn bộ phim “Nàng bạch tuyết” ở góc độ bản quyền – nếu bạn biết một sản phẩm 40 năm sau vẫn mang về lợi nhuận cho bạn mà không phải tốn bất kỳ chi phí đầu tư nào – bạn có nên tập trung vào nó không? Theo một thống kê không chính thức, hiện Walt Disney đang giữ bản quyền hơn 10,000 nhân vật – và nguồn thu từ bản quyền phim & hình ảnh nhân vật mang về hơn 50% doanh thu hàng năm cho Walt Disney.

Như vậy, có thể hình dung quy trình làm việc của Walt Disney như sau: đầu tư tạo ra môt tuyệt tác – làm cho cả thế giới phát rồ vì tuyệt tác đó – và chia sẻ quyền kinh doanh cho những đối tác mong muốn kinh doanh. Rất đơn giản – mà cũng không đơn giản chút nào.

Một điều đáng chú ý nữa là Walt Disney đang “tư nhân hóa” kho tàng truyện cổ tích của thế giới – khi thực hiện hàng loạt những bộ phim từ những câu chuyện thần thoại như “Alibaba và 40 tên cướp”, Pinochio, “Hoa mộc lan”, “Peter Pan”, “Snow White” … Liệu những thế hệ sau này có biết “Alibaba và 40 tên cướp” là một câu chuyện trong kho tàng “Ngàn lẻ một đêm” của Trung Đông – hay sẽ nhớ về nó như một bộ phim của Walt Disney?

 Theo Brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

TƯ VẤN CHIẾN LƯỢC MARKETING: WALT DISNEY DƯỚI GÓC NHÌN MARKETING (PHẦN 1)

Hầu hết mọi người trong chúng ta đều biết đến Walt Disney như một tư vấn chiến lược thương hiệu quá nổi tiếng về giải trí – gắn liền với tuổi thơ của bao thế hệ trên thế giới. Song hầu như rất ít người biết về Walt Disney – người sáng lập ra tập đoàn Walt Disney hùng mạnh.

Thành công của Walt Disney hiện nay không phải ngẫu nhiên – mà có thể xem là một trong những tấm gương về triết lý kinh doanh, nghị lực và chiến lược marketing thiên tài.

     1. Chiến lược marketing đại tài

Tôi sẽ không nói nhiều về tiểu sử và con đường thành công của Walt Disney – vì mọi người có thể Google dễ dàng. Tôi xin phân tích về óc marketing cũng như chiến lược marketing thiên tài của Walt Disney – thể hiện qua 3 điểm chính:

a. Triết lý kinh doanh

Triết lý kinh doanh của Walt Disney gói gọn trong 2 câu nói của ông: “Tôi không vẽ phim hoạt hình cho trẻ thơ, tôi vẽ phim hoạt hình trong đứa trẻ trong mỗi chúng ta. Tôi gọi đứa trẻ đó là sự ngây thơ. Trong cuộc sống, nếu vì bất cứ lý do nào mà để mất đi sự ngây thơ đó thì thật là đáng tiếc.” Đây có thể xem là tiền đề cho bước “định vị thương hiệu” tiếp theo của Walt Disney.

Ngoài triết lý rất nhân văn trong câu nói, điểm thiên tài của Walt Disney là ông bỏ qua những lý thuyết thông thường về khách hàng mục tiêu (phân tích theo hành vi, độ tuổi – demographic) mà đi vào “nhu cầu mục tiêu”. Nói cách khác, Walt Disney không xác định “target audience” mà xác định “target need”, đây không phải là sản phẩm cho trẻ em – mà là sản phẩm cho những người có nhu cầu trở về tuổi thơ.

7

tư vấn chiến lược thương hiệu walt disney

Bằng cách xác định mục tiêu như vậy, thị trường của Walt Disney có thể nói là tất cả mọi người, không còn giới hạn bởi lứa tuổi, địa lý, ranh giới nào.

“It’s fun to do the impossible” (Làm điều không thể thật sự rất vui), đó là câu nói của ông vào những năm 1945. 20 năm sau, một nhà kinh tế học – xuất thân từ CIA, đã thêm vào vế sau “Because there is less competition there” (bởi vì ở đó có ít cạnh tranh hơn).

Thật vậy, khi đã nói về “the impossible” (điều tưởng chừng không thể), thì đó không phải là bài toán về nguồn lực – mà là bài toán về niềm tin.

b. Xây dựng niềm tự hào của nhân viên

Một trong những trọng tâm của chiến lược marketing hiện đại là chiếm được niềm tin tuyệt đối của “khách hàng nội bộ” – vốn là những nhân viên trong công ty, những người sẽ trực tiếp làm ra sản phẩm & thuyết phục công chúng sử dụng.

8

“Tôi không vẽ phim hoạt hình cho trẻ thơ, tôi vẽ phim hoạt hình trong đứa trẻ trong mỗi chúng ta”

Hãy nghe Walt Disney “định vị thương hiệu” công ty của mình: “Walt Disney là một phần của lực lượng sáng tạo làm nên thế giới tưởng tượng của trẻ em trên toàn cầu.” Một “định vị” rất nhân văn, rõ ràng, không kiêu ngạo song đầy cuốn hút. Điểm đáng lưu ý là Walt Disney đưa ra “định vị thương hiệu” này vào những năm 1940 – tức là 48 năm trước khi khái niệm “thương hiệu” – và một loạt khái niệm như “nhận diện thương hiệu, hệ thống nhận diện thương hiệu,…” ra đời sau đó vào năm 1988.

Xây dựng niềm tự hào nội bộ còn thể hiện bằng việc Walt Disney “tẩy não” và liên kết nhân viên của mình một cách triệt để với công việc. Tại Walt Disney – nhân viên là “diễn viên”, công ty là “sàn diễn”, khách hàng là “người xem” … Một loạt những thuật ngữ rất “sân khấu” được sử dụng để mô tả công việc – như luôn nhắc nhở mỗi nhân viên rằng họ đang làm trong ngành công nghiệp nào.

Theo Brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

CHIẾN LƯỢC THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ PHÚC LONG

Xuất hiện từ năm 1957 tại Bảo Lộc – Lâm Đồng, thương hiệu Phúc Long nổi tiếng với truyền thống kinh doanh trà và cà phê. Trải qua hơn nửa thế kỷ phát triển, trà và cà phê Phúc Long đã quá quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Tuy nhiên, nếu như cách đây 2 năm, các cửa hàng của Phúc Long chỉ đơn thuần là nơi bán và giới thiệu sản phẩm thì gần đây, thương hiệu này dường như đã thay đổi cách tiếp cận khách hàng và bắt đầu quảng bá thương hiệu bằng chuỗi cửa hàng cà phê Phúc Long với thiết kế nhận diện thương hiệu mới và sự xuất hiện tại những vị trí đắc địa trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh. Điều này góp phần tạo nên trào lưu cho giới trẻ nhưng cũng khiến các “lão làng” vốn đang thống lĩnh thị trường phải e dè.

Cuộc đua với các “lão làng” lớn

4

chiến lược thương hiệu cà phê Phúc Long

Không gian và menu cửa hàng Phúc Long khá giống với các đối thủ cạnh tranh

Chỉ cần lang thang từ Nhà thờ Đức Bà đến chợ Bến Thành, rồi vòng xuống khu Tây balô Phạm Ngũ Lão (quận 1), người ta có thể hoa mắt vì sự dày đặc của các chuỗi cửa hàng cà phê. Trong vòng bán kính 600-800m xung quanh chợ Bến Thành, có đến 5/9 cửa hàng Starbucks, 10/17 cửa hàng Coffee Bean & Tea Leaf và hơn chục cửa hàng cà phê Trung Nguyên. Chuỗi cửa hàng cà phê Phúc Long ra đời sau cũng đã kịp đặt 6/10 cửa hàng ở khu vực này. Việc đặt các cửa hàng nằm đối diện hay cách không xa cửa hàng của đối thủ có là bước đi ngẫu nhiên hay sự đặt để đầy sự tính toán?

Thực đơn và chính sách giá bán của Phúc Long cũng có nhiều điểm đáng chú ý. Vẫn dựa trên thế mạnh sẵn có là trà và cà phê, Phúc Long xây dựng thực đơn khá phong phú, có trà và cà phê truyền thống cùng các loại thức uống đá xay không khác gì các thương hiệu ngoại. Phúc Long bán cả các loại trà sữa – loại đồ uống yêu thích của giới trẻ trong thời gian gần đây. Sản phẩm tương tự nhưng giá bán lại khá mềm, chỉ khoảng 25.000 – 45.000 đồng/ly, bằng 50 – 70% so với giá bán của Trung Nguyên, hay 30% – 50% giá bán của Starbucks và The Coffee Bean & Tea Leaf.

Tất nhiên, mỗi thương hiệu có phân khúc khách hàng mục tiêu của riêng mình. Starbucks và The Coffee Bean & Tea Leaf định vị thương hiệu cao cấp khi nhắm tới dân văn phòng thu nhập cao và khách nước ngoài vốn đã quen với khẩu vị của cà phê ngoại. Trung Nguyên định vị thương hiệu tầm trung nhưng xác định rõ phân khúc khách hàng yêu thích hương vị cà phê truyền thống. Còn cái hay của Phúc Long là hướng đến đối tượng khách hàng đa dạng hơn, từ người đi làm, khách du lịch cho đến học sinh, sinh viên. Giá bán phù hợp với túi tiền của đại đa số người dân có thể giúp Phúc Long đưa thương hiệu của mình đến mọi đối tượng tiêu dùng một cách nhanh nhất.

Không quá khó để nhận diện thương hiệu Phúc Long ở các vị trí đắc địa – các góc ngã tư hoặc gần cửa hàng đối thủ trên địa bàn quận 1 – Tp. Hồ Chí Minh. Nhưng sự toan tính của Phúc Long khi chọn địa thế này lại được các nhà tư vấn chiến lược marketing đặt ra câu hỏi: “với giá bán rẻ hơn đối thủ trong khi giá thuê mặt bằng vẫn ngang ngửa và chi phí đầu tư lớn, chắc hẳn Phúc Long không muốn chơi ngông sau nửa thế kỷ ẩn mình, vậy điều gì đang nằm trong đầu của ông chủ thương hiệu này?”

Bài toán khó về vị trí cửa hàng Phúc Long

5

Phúc Long muốn thương hiệu của mình được “truyền miệng” ra thế giới

Tận dụng lợi thế sân nhà để lựa chọn đối đầu trực tiếp với Starbucks và những thương hiệu cà phê ngoại khác, Phúc Long đã tự nâng tầm thương hiệu với những ông lớn này, và từ đó tạo sức bật ra thị trường quốc tế thông qua du khách đến Việt Nam. Khi lựa chọn một đất nước là điểm đến khám phá, khách du lịch nước ngoài sẽ có xu hướng thưởng thức các thương hiệu nội địa thay vì các thương hiệu quen Starbucks hay The Coffee Bean & Tea Leaf. Rồi khi trở về nước, họ sẽ trở thành kênh quảng cáo “truyền miệng” của Phúc Long, phát tán đi thông tin về chất lượng và sản phẩm của một hãng cà phê Việt.

Đổi lại, Phúc Long phải chịu một khoảng chi phí không nhỏ với giá thuê mặt bằng cao ngất ngưỡng và chi phí đầu tư khổng lồ. Bao giờ mới có lãi hoặc ít nhất, lấy lại được vốn? Câu trả lời có lẽ là rất lâu hoặc không bao giờ. Nhưng giữa lợi ích của việc phát triển thương hiệu và lợi nhuận, Phúc Long chọn thương hiệu. Hơn nữa, với chiến lược này, Phúc Long đã vô tình thu hút được sự quan tâm đáng kể của giới trẻ.

Tại quán cà phê Phúc Long trên đường Lê Lợi, với diện tích chưa đến 30 m2 nhưng lúc nào cũng trong tình trạng hết chỗ với hơn 35 khách đang ngồi, đa số còn rất trẻ. Mong rằng, Phúc Long sẽ sớm áp dụng chiến lược thương hiệu bổ sung là mở thêm những chuỗi cửa hàng mới phục vụ riêng cho nhóm này ở những khu vực có giá thuê thấp hơn, nhằm cân bằng chi phí và lợi nhuận.

Cuộc chiến dai dẳng

6

Phúc Long linh động trong thực đơn của mình để thu hút đa dạng đối tượng

Trong cuộc cạnh tranh với những đối thủ Việt Nam, các thương hiệu ngoại vẫn đang thay đổi để phù hợp với thói quen của người địa phương. Trong thực đơn của mình, The Coffee Bean & Tea Leaf và Starbucks đều hướng đến khẩu vị của người Việt. Ngoài việc bổ sung những thức uống hợp khẩu vị hơn, cả 2 thương hiệu này cũng đang thay đổi thói quen kinh doanh của mình. Tại Mỹ, các cửa hàng của Starbucks và The Coffee Bean & Tea Leaf chủ yếu bán cà phê mang đi (take-away). Khi về đến Việt Nam, họ đều “nhập gia tùy tục” với các cửa hàng được thiết kế sang trọng, không gian thoải mái để các thượng đế có thể ngồi lâu hơn, nếu muốn. Starbucks hiện có kế hoạch phát triển chuỗi cửa hàng tại các khu vực mang tính địa phương hơn khi tập trung vào các khu dân cư. Bước đầu là cửa hàng Starbucks Phan Xích Long (quận Phú Nhuận), kế tiếp có thể là cửa hàng Starbucks Panorama (quận 7) và Pandora City (quận Tân Phú).

Trung Nguyên dù đang ghi điểm tuyệt đối về độ phủ của thương hiệu với hơn 70 cửa hàng trên toàn quốc, nhưng họ cảm thấy chưa đủ an toàn. Thương hiệu này đang tiếp tục mở rộng mạng lưới hoạt động để tăng mức độ cạnh tranh với những đối thủ kia.

Một thương hiệu cà phê Việt khác là Phin Deli cũng đang chuẩn bị phát triển chuỗi 30 cửa hàng của riêng mình. Với khả năng kinh doanh nhạy bén của người mua thị trấn Mỹ Phạm Đình Nguyên, cùng sự hậu thuẫn của Kinh Đô, Phin Deli sẽ là cái tên tiếp theo đẩy cuộc cạnh tranh chuỗi cà phê lên cao trào.

Như vậy, thị trường cà phê vẫn sẽ còn chứng kiến những cuộc cạnh tranh khốc liệt và căng thẳng hơn trong tương lai. Ngay tại thời điểm này, nếu loại trừ thương hiệu mà chỉ tính đến lượt khách và doanh thu thì sẽ rất khó để tranh ngôi thứ cao thấp. Phúc Long ra đời sau nhưng đang thể hiện tốt sự năng động của mình trước các “lão làng” cả nội lẫn ngoại. Đến khi Phin Deli xuất hiện, chắc chắn bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến của 5 ngũ tướng cà phê sẽ trở nên rõ ràng hơn.

Theo Nhịp cầu đầu tư

Biên tập bởi Brand2

CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN – TƯ DUY ĐỘT PHÁ VÀ NĂNG LỰC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

Ngày 27-4-2011, Chuyên mục giới thiệu những công ty xây dựng thương hiệu thành công của tạp chí 123 năm tuổi, danh tiếng nhất thế giới – Financial Times(*) – xuất hiện một thương hiệu Việt Nam: “Cà phê Trung Nguyên”, bài viết do Morgen Witzel (**) thực hiện. Đây là niềm tự hào của một thương hiệu Việt bên cạnh các tên tuổi hàng đầu thế giới về sáng tạo và kỹ nghệ như WalMart, Cirque du Soleil, Procter & Gamble…

Khởi nguồn

Ngành nông nghiệp cà phê ở Việt Nam bắt đầu hình thành dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp vào thế kỷ 19 và nhanh chóng trở thành một ngành công nghiệp chủ lực. Vào giữa những năm 1990, Việt Nam đã trở thành một trong ba nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.

1

xây dựng thương hiệu cà phê trung nguyên

Tuy nhiên, hầu hết cà phê của Việt Nam đều có chất lượng thấp và xuất khẩu với giá thấp. Trước thực trạng đó, doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ tin rằng những hạt cà phê chất lượng, đặc biệt của Việt Nam có thể được sản xuất và bán với giá trị cao tương xứng. Vì vậy, năm 1996, ông đã thành lập thương hiệu Trung Nguyên, một công ty sản xuất cà phê cùng một hệ thống quán cà phê.

Thách thức ban đầu

Việt Nam là một thị trường mới nổi. Năm 1995, thu nhập bình quân đầu người chỉ có $ 250 (năm 2010 là $ 1,200). Đây là một trong những lý do tại sao ông Vũ đã chọn để phát triển một thương hiệu với định vị thương hiệu đẳng cấp nhằm chiếm lĩnh cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Để thực hiện được điều đó, ông đã phải thuyết phục thị trường trong nước tin tưởng vào giá trị và chất lượng sản phẩm mà thương hiệu Trung Nguyên đem đến và thuyết phục thị trường quốc tế rằng Việt Nam có khả năng sản xuất những sản phẩm cà phê đặc biệt dành cho những người sành cà phê.

Thị trường Việt Nam

Chiến lược xây dựng thương hiệu của Trung Nguyên được lên kế hoạch cẩn thận. Để cạnh tranh với các công ty đa quốc gia về cà phê chuyên trong lĩnh vực chuỗi cửa hàng cà phê hoặc thương hiệu đa quốc gia như Nescafé, ông Vũ định vị thương hiệu Trung Nguyên là một phần của truyền thống Việt Nam. Việc thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu theo một phong cách đẳng cấp, truyền thống cũng đã góp phần làm nên tên tuổi của Trung Nguyên.

2

Một trong những sản phẩm đặc biệt, nổi tiếng nhất của Trung Nguyên là Cà phê Chồn (Weasel). Sản phẩm tinh tế, đẳng cấp này duy nhất trên thế giới, được bộ ngoại giao làm quà tặng cho các Nguyên Thủ Quốc Gia và chọn làm đại sứ ngoại giao văn hóa.

Kết hợp di sản văn hóa và tính hiện đại là điểm đặc sắc của Trung Nguyên, được thể hiện rõ trong hệ thống nhận diện thương hiệu, cụ thể là bao bì, trong mô hình thiết kế, trang trí của các quán cà phê. Với slogan “Khơi nguồn sáng tạo” Trung Nguyên đã tạo cảm hứng, thúc đẩy sáng tạo cho những người thưởng thức cà phê.

Quán Trung Nguyên đầu tiên xuất hiện tại TP Hồ Chí Minh vào năm 1998, và đến năm 2010 Trung Nguyên đã có hơn 1.000 quán trên khắp Việt Nam và ra quốc tế. Trung Nguyên cũng đã đa dạng hóa sản phẩm cà phê, tạo nên những sản phẩm cà phê có hàm lượng cafein thấp, cà phê hòa tan G7, gu thưởng thước Cappuccino theo phong cách Ý…

Chinh phục quốc tế

3

Xuất khẩu là một phần quan trọng của chiến lược phát triển cũng như chiến lược marketing được Trung Nguyên xác lập ngay từ đầu, hiện nay Trung Nguyên đã xuất hiện hơn 50 quốc gia (Mỹ, Anh, Nhật, Úc,…) trên thế giới.

Hầu như sự hấp dẫn của thương hiệu là tấn công vào các thị trường ngách, đánh vào nhu cầu của khách hàng về một loại sản phẩm cà phê khác biệt, đặc biệt. Chẳng hạn như nhu cầu ở thị trường Mỹ, Anh, Úc… Đây cũng có thể được xem như một cách định vị thương hiệu của Trung Nguyên ở nước ngoài.

Những nỗ lực để nhân rộng các quán cà phê trong nước nhằm thực hiện chiến lược xây dựng thương hiệu và thành lập hệ thống quán Trung Nguyên ở nước ngoài đều gặt hái được thành công. Hiện Trung Nguyên đã có nhiều quán ở Singapore và một số nơi khác trên thế giới như Nhật, Thái Lan.

Bài học

Xây dựng thương hiệu đẳng cấp trong một thị trường mới nổi có vẻ là mâu thuẫn. Nhưng trường hợp Trung Nguyên cho thấy điều đó có thể thực hiện được. Bằng sự kết hợp yếu tố văn hóa dân tộc, các giá trị và tạo nên một thương hiệu giàu khát vọng mà qua đó các tầng lớp tri thức trẻ nhìn thấy mình trong đó và khát khao khẳng định.

Tuy nhiên, Trung Nguyên cũng phải nhìn nhận rằng, việc phát triển, mở rộng thương hiệu ở nước ngoài sẽ mất nhiều thời gian, và đòi hỏi nhiều sự điều chỉnh linh hoạt cho từng thị trường riêng biệt của quốc tế.

(*) The Financial Times (FT) là một tờ nhật báo quốc tế chuyên ngành kinh doanh được xuất bản tại London, Anh và phát hành ở 24 thành phố khác trên toàn thế giới.

(**)Tác giả Morgen Witzel

Hơn 20 năm nghiên cứu về tư duy sáng tạo, thương hiệu. Các đầu sách nổi tiếng như (How to Be Your Own Management Guru, Knowledge Corporation, Corporate Finance and the Virtual Organization, Management…) dịch sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới như Trung Quốc, Đức, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ba Lan, và Tây Ban Nha.

Theo Bransvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

Chiến lược marketing “mê hoặc” các mạng xã hội (Phần 2)

Cùng tìm hiểu thêm những chiến lược marketing online trên mạng xã hội từ các thương hiệu nổi tiếng như Coca-Cola, Intuit, Squre…và “ghi chép” những bài học kinh nghiệm về chiến lược thương hiệu để ứng dụng phù hợp với công việc kinh doanh online của bạn.

4. Phong cách như Coca-Cola

định vị thương hiệu

Coca-Cola là một thương hiệu nổi tiếng và thành công trong bất kỳ chiến lược truyền thông của mình vì họ luôn hiểu rõ họ là ai và họ đại diện cho điều gì. Coca-Cola đã và đang lồng ghép khéo léo các giá trị xuyên suốt các kênh mạng xã hội trong những bài viết tình cảm và lay động lòng người.

Coca-Cola chia sẻ các câu truyện trên phạm vi toàn cầu, nhưng vẫn gắn liền với giá trị và sứ mệnh của mình trong đó. Giống như cách mà Coca-Cola đang thực hiện trên kênh Youtube của mình, Coca-Cola đăng tải và chia sẻ những video của mình trên toàn cầu từ một kênh duy nhất.

Và bạn cũng hoàn toàn có thể tạo được dấu ấn trong quá trình xây dựng thương hiệu với sứ mệnh và giá trị như vậy qua:

  • Xác định sứ mệnh rõ ràng cho giá trị của thương hiệu. Định hướng giá trị thương hiệu, đóng gói và lồng ghép trong suốt thông điệp truyền thông.

  • Theo dòng sự kiện nhưng vẫn gắn liền với sản phẩm của mình.

5. Square xây dựng thương hiệu nhân văn

Mạng xã hội là nơi để mọi người tương tác. Một cách hữu hiệu để duy trì sự quan tâm và tương tác của người dùng trong các mạng xã hội với thương hiệu của bạn là xây dựng thương hiệu mang đậm tính nhân văn.

Với Square Stories, thương hiệu không chỉ đem đến tính năng nổi bật về các sản phẩm thanh toán trên di động mà quan trọng hơn nữa là các sản phẩm tác động đến cuộc sống thực sự và mối quan hệ của những người đang sử dụng sản phẩm.

12

Làm thế nào để bạn kết nối với khách hàng?

  • Làm việc và nghiên cứu với đội ngũ chăm sóc khách hàng hoặc dịch vụ khách hàng để hiểu rõ hơn về khách hàng và cách họ sử dụng sản phẩm.

  • Gặp gỡ khách hàng trong cuộc sống thực, ghi chép thông tin, kết nối hình ảnh khách hàng trong những bài viết phù hợp về sự thành công, thách thức của chính người dùng.

  • Khách hàng không muốn sử dụng sản phẩm trong một quy chuẩn nhất định. Mỗi người sẽ có cách tiếp cận và cảm nhận khách nhau về sản phẩm. Đa dạng bài viết và nội dung tiếp cận khách hàng.

6. Intuit thành công với văn hóa doanh nghiệp

Intuit là một trong những thương hiệu B2B hiếm hoi sử dụng thành công Pinterest trong chiến lược marketing online của mình. Intuit được vinh danh là 1 trong 100 doanh nghiệp tốt nhất để làm việc.

Không chỉ là vấn đề quy mô doanh nghiệp, tuyển dụng được những thành viên nổi trội là một điều cần lưu tâm hàng đầu. Intuit sử dụng các mạng xã hội để tương tác và cung cấp thông tin để tạo nên một nhân viên xuất sắc.

13

Dù bạn là chủ doanh nghiệp hay shop bán hàng, dù bạn bán trực tuyến hay truyền thống, nhu cầu tuyển dụng và làm việc với những cá nhân phù hợp là điều bạn cần quan tâm:

  • Làm việc với bộ phận nhân sự hoặc nhân viên nhân sự để tìm kiếm những cá nhân phù hợp với môi trường làm việc và văn hóa doanh nghiệp.

  • Trò chuyện, phỏng vấn đồng nghiệp, nhân viên về mơ ước, mong muốn và thói quen để tạo nên những mảng màu khác nhau cho doanh nghiệp.

“Đóng gói” và đăng tải lên các mạng xã hội về những sự kiện của doanh nghiệp như nghỉ hè, tiệc cuối năm, hoạt động thể thao, hoạt động nhân đạo,…vừa để xây dựng hình ảnh vừa thu hút sự quan tâm của người dùng.

Những bài học về tư vấn chiến lược marketing trên đây góp phần không nhỏ vào định hướng chiến lược marketing online của bạn, tùy theo giá trị và khả năng của doanh nghiệp cũng như nhu cầu của khách hàng tiềm năng. Hoặc bạn có thể “pha chế” các chiến lược phù hợp để tạo thành một kế hoạch phù hợp với bạn. Bạn sẽ nhanh chóng nhận ra chiến lược nào là phù hợp và thu hút người dùng.

Theo Brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

THƯƠNG VỤ ALTERA – VÁN CỜ CỦA NHÀ LÃNH ĐẠO INTEL

 CEO Brian Krzanich của Intel đã đi những bước đáng kể trong 2 năm đầu tiên cầm cương nhằm làm giảm sự phụ thuộc của tập đoàn này vào thị trường máy tính cá nhân. Nay Krzanich lại đi thêm một bước táo bạo nữa là tuyên bố mua lại nhà sản xuất chip lập trình thương hiệu Altera Corp với giá kỷ lục 16,7 tỉ USD.

Triển vọng nào cho thương vụ Altera?

intelmualaialteracanhbactrigia167tyusd1433318518

Krzanich tin rằng công nghệ của Altera sẽ ra hoa kết trái bằng cách tăng cường được mảng kinh doanh sinh lợi nhất của Intel – chip cho các trung tâm dữ liệu doanh nghiệp, cũng như cho phép Intel khai thác tốt hơn một thị trường còn sơ khai là Internet of Things – thuật ngữ mới nói đến một thế giới của tương lai khi mọi thứ đều có khả năng kết nối vào mạng internet để tương tác với nhau, tạo điều kiện cho cuộc sống con người trở nên dễ dàng hơn.

Định vị thương hiệu rõ từ đầu thập niên 1980 với sản phẩm chip dùng trong PC – mảng cốt lõi của thương hiệu Intel nay đã sa sút khi khách hàng hiện đang quay sang điện thoại thông minh và máy tính bảng. Sau nhiều năm nỗ lực, Intel đã chen chân vào được phân khúc chip điện thoại thông minh. Dưới sự lãnh đạo của Krzanich trong 2 năm qua, Intel đã tạo được chỗ đứng trong mảng máy tính bảng.

Nhưng Krzanich cho rằng phát triển về điện thoại thông minh không phải là động cơ tăng trưởng cho Công ty. Có lẽ đó là lý do Krzanich đã thực hiện bước đi táo bạo là mua lại Altera – một công ty chuyên về các chip lập trình. Chúng đặc biệt phổ biến trong các thiết bị kết nối mạng và không dây, vốn là những thị trường mới mà Intel nhắm đến. Một số công ty cũng đang sử dụng chip lập trình song song với các chip truyền thống để đẩy nhanh tốc độ xử lý của các máy chủ. Đây cũng là những lý do mà Krzanich muốn có được Altera.

Dự kiến ra mắt sản phẩm “kép”

intel_reuters_500_whsr

Hiện tại, Intel đã sản xuất một số chip do Altera thiết kế theo một hợp đồng thỏa thuận được ký kết trước đó. Intel dự kiến sẽ bắt đầu bán chip Xeon Intel mà trong đó có chứa cả chip lập trình Altera – một sự kết hợp có thể mang lại lợi thế hơn so với việc mua 2 loại chip riêng biệt. Những sản phẩm “kép” như vậy sẽ ra mắt vào cuối năm 2016. Việc ra mắt này cũng cần có một chiến lược marketing hiệu quả để đưa sản phẩm ra thị trường, giúp mang lại thành công cho thương vụ thâu tóm này.

Thương vụ Altera khá khác biệt vì kết hợp cả giữa chip lập trình với bộ xử lý trong một máy chủ sử dụng bởi Google, chẳng hạn, sẽ giúp cho máy chạy nhanh hơn với các chức năng tiên tiến như nhận diện mặt người trong một bức ảnh hoặc giải mã dữ liệu. Khả năng lập trình chip cũng sẽ cho phép nó chuyển đổi giữa các chức năng đặc biệt này một cách nhanh hơn.

Nhưng trước hết, Krzanich cần chứng tỏ rằng Intel sẽ không lặp lại lịch sử đáng buồn của những người tiền nhiệm trong các thương vụ thâu tóm trước đó. Sản phẩm “kép” của thương hiệu Intel dự kiến sẽ ra mắt vào cuối năm tới. Hãy chờ xem Krzanich có phá vỡ được “lời nguyền” của các nhà tiền nhiệm hay không nhé.

Theo Brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

NESCAFE VÀ THÀNH CÔNG KHI XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CAFÉ VIỆT

Hiện nay, Nescafe cùng với Vinacafe và Trung Nguyên là ba ông trùm cà phê chiếm tới hơn 80% thị phần cà phê hòa tan tại Việt Nam. Dù trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt, Nescafe vẫn vững chãi khi khẳng định sự thấu hiểu người tiêu dùng trong chiến lược marketing cho sản phẩm mới của mình, điển hình là đứa con tinh thần vô cùng to lớn của mình – Café Việt.

ca-phe-den-hoa-tan-cafe-viet-hop-15-goi-x-16g

Năm 2008, thị trường cà phê lúc bấy giờ được thống trị bởi cà phê pha phin truyền thống với hơn 60% thị phần. Nescafe lúc bấy giờ cũng đã xuất hiện tại Việt Nam và cạnh tranh với các thương hiệu cà phê khác trong dòng sản phẩm cà phê hòa tan. Vậy lý do gì để Nescafe – Café Việt được ra đời?

Theo các chuyên gia tư vấn chiến lược thương hiệu, có 3 việc cần làm để gia tăng lợi nhuận cho thương hiệu:

  • Gia tăng lượng khách hàng

  • Gia tăng số lần sử dụng sản phẩm của khách hàng hiện tại

  • Bán sản phẩm với giá cao hơn – đi kèm nhiều lợi ích hơn

Với Café Việt, Nescafe muốn gia tăng thị phần của mình, nhưng không phải gia tăng bằng cách chiếm lĩnh thị phần của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà là thị phần từ cà phê truyền thống.

Mục tiêu của Nescafe lúc bấy giờ rất rõ ràng, đó là khiến những người đang sử dụng cà phê truyền thống chuyển sang sử dụng Café Việt. Để đạt được mục tiêu của mình, Nescafe đã nghiên cứu rất kỹ thị trường cà phê Việt Nam và thấu hiểu được tâm tư của người tiêu dùng.

Câu trả lời mà Nescafe tìm ra rất cụ thể: Phần lớn số người tiêu thụ cà phê ở Việt Nam là nam giới và họ uống cà phê không chỉ bởi sở thích, không chỉ bởi lợi ích lý tính mà cà phê mang lại mà còn vì lợi ích cảm tính – chứng minh cái tôi cá nhân cùng vẻ nam tính của mình. Không gì phù hợp hơn một ly cà phê đen với vị đắng đặc trưng.

Ly cà phê “mạnh” với vị đắng đặc trưng chỉ có thể tìm thấy ở cà phê pha phin mà thôi. Nhưng ly cà phê hòa tan mà lại “mạnh” thì thật không thể tin được!

Nescafe – Café Việt ra mắt để làm nên điều không tưởng 

phincafe-ca_phe_viet

Không khó để tạo ra một loại cà phê “mạnh” theo đúng khẩu vị người Việt. Rào cản lớn nhất mà Café Việt cần phải bước qua là thuyết phục người tiêu dùng tin vào điều ấy. Chúng ta không thể thuyết phục một người đã uống cà phê phin suốt hàng chục năm trời chuyển sang cà phê hòa tan – dù cà phê thực sự “mạnh” và có hình ảnh nam tính. Chính vì thế, khách hàng mục tiêu mà Café Việt nhắm tới chính là những chàng trai trẻ, những người chưa từng uống cà phê pha phin hoặc mới chỉ gắn bó với nó một thời gian ngắn. Đối tượng này ngoài việc chưa có sự gắn bó mật thiết với cà phê phin thì còn có cái tôi cá nhân thực sự lớn và khả năng tiếp nhận cái mới cao hơn rất nhiều.

“Bạn đã đủ mạnh để thử?” – thông điệp marketing mang tính thách thức

55202861-loandtcafevietthuthachnamgioi

Với định vị “Café mạnh dành cho phái mạnh”, Nescafe đã thực hiện một chiến dịch marketing đủ mạnh để ra mắt thành công sản phẩm mới của mình. Lời thách thức “Bạn đã đủ mạnh để thử?” được truyền tải rộng khắp và nhất quán trong hệ thống nhận diện thương hiệu từ bao bì, hình ảnh quảng cáo, TVC,… cho đến các hoạt động activation đã khiến hình ảnh Nescafe – Café Việt nổi lên như loại cà phê đầu tiên ở thị trường Việt được thiết kế dành riêng cho phái mạnh.

Thấu hiểu người tiêu dùng luôn là một điều kiện tiên quyết để xây dựng thương hiệu thành công. Kết quả với chiến dịch ra mắt Café Việt thành công mỹ mãn khi thị phần của cà phê truyền thống đã sụt giảm 12% và thị phần của Cafe Việt cũng gia tăng một lượng tương ứng – Điều này giúp Café Việt duy trì vị thế là sản phẩm cà phê hòa tan số 1 trong suốt 4 năm sau khi ra mắt. Hiện tại, sau gần 8 năm ra mắt Nescafe – Café Việt vẫn là một trong những sản phẩm cà phê hòa tan được tiêu dùng nhiều nhất tại Việt Nam.

Theo Marketingchienluoc.com

Biên tập bởi Brand2