Category: Định vị thương hiệu

ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU CỦA CÁC CÔNG TY SỮA

Hiện nay, trên thị trường tràn ngập các định vị thương hiệu sữa nội lẫn ngoại với vô số chiến lược marketing. Hằng ngày, nó tác động đến người tiêu dùng dưới nhiều hình thức từ outdoor đến TVC, từ tờ rơi, poster đến quảng cáo báo in, báo điện tử,… Vậy có một câu hỏi đặt ra là, tại sao một người mẹ lại chọn mua sữa thương hiệu A mà không phải là sữa B, khi chất lượng và giá cả không chênh lệch đáng kể?

11

ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU CÔNG TY SỮA

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nói đến việc định vị thương hiệu của các công ty. Việc giúp cho người tiêu dùng ghi nhớ được thương hiệu cũng như thông điệp sản phẩm và để nhận diện thương hiệu là một điều không đơn giản. Giải pháp của các công ty sữa là họ sẽ định vị thương hiệu (Brand Positioning) và xây dựng tính cách riêng của thương hiệu (Brand Personality) hay thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu một cách nhất quán.

Định vị thương hiệu là một khái niệm mới ra đời vào khoảng đầu thập niên 1970. Các công ty sữa định vị thương hiệu của mình qua 4 chiến lược chính như lựa chọn định vị rộng cho thương hiệu, lựa chọn định vị đặc thù, lựa chọn định vị giá trị và tổng giá trị đối với thương hiệu sản phẩm.

Mỗi một sản phẩm, một nhãn hiệu hay ngành hàng (sữa bột, sữa đặc, sữa nước, và sữa chua) đều được áp dụng một cách riêng biệt, nhưng cũng đi theo một chiến lược định vị thương hiệu chung của cả công ty.

Định vị rộng cho thương hiệu sản phẩm

12

ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU CÔNG TY SỮA

Thông thường, các doanh nghiệp không đủ tiềm lực tài chính để dẫn đầu trong toàn bộ các lĩnh vực, vì vậy họ cần phải tập trung nguồn lực của mình vào một số lĩnh vực để dẫn đầu trong lĩnh vực đó. Có 3 cách lựa chọn định vị thương hiệu rộng mà người ta phải chú ý, bao gồm:

  • Trở thành nhà sản xuất sản phẩm độc đáo phân biệt với các sản phẩm khác: Điển hình là thương hiệu Dutch Lady. Năm 2006, nhãn hàng Friso Gold của công ty sữa Dutch Lady tăng cường miễn dịch cho trẻ em, tạo đột biến về sản phẩm sữa, làm cho những nhãn hàng theo sau như Dumex Gold và sữa mới Arla của Đan Mạch không thể địch nổi.

Cũng lựa chọn phương pháp định vị thương hiệu này, LachiFood đã sản xuất ra những sản phẩm sữa bột cũng dành cho trẻ em, nhưng có sự phân biệt sữa của bé trai và sữa của bé gái, với nhãn hiệu LachiEQ của mình. Công ty Vinamilk thì chọn sữa đậu nành Soya độc đáo.

  • Dẫn đầu về giá thành thấp nhất: Điển hình là Công ty sữa NutiFood đã chọn cách thức định vị thương hiệu này cho sản phẩm sữa bột Nuti của mình. Nuti vừa có thêm loại 20g với giá cực rẻ (với dung lượng nhỏ) cũng kiếm được rất nhiều thị phần ở khu vực vùng nông thôn và bên cạnh những khu công nghiệp.

  • Khai thác thị trường chuyên biệt hay trở thành người phục vụ các thị trường chuyên biệt: Điển hình là thương hiệu Anlene của công ty Fonterra – thị trường chuyên biệt trong ngành sữa thường là dinh dưỡng cho người lớn tuổi và dinh dưỡng dành cho theo bệnh lý như (suy dinh dưỡng, bệnh lý…). Hiện nay, Anlene đã chiếm đến 80% thị phần trong ngành hàng chuyên biệt này.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn tồn tại trường hợp một số doanh nghiệp có thể dẫn đầu trên cả hai lĩnh vực. Trong ngành sữa – một ngành dinh dưỡng – thì hai lĩnh vực sản phẩm độc đáo và sản phẩm chuyên biệt là hai lĩnh vực mà một công ty kinh doanh lưu tâm. Muốn có được điều này thì bộ phận R&D (nghiên cứu và phát triển) của công ty đó phải mạnh, cũng như bộ phận marketing phải tư vấn chiến lược marketing và hoạt động nổi trội trong ngành hàng của mình.

Định vị đặc thù cho thương hiệu sản phẩm

13

Abbott chuyển sang định vị thương hiệu “sữa số 1 Việt Nam”

Nhiều công ty tìm cách định vị lợi ích chính đáng duy nhất trong số các khả năng: chất lượng tốt nhất; kết quả tốt nhất; uy tín nhất; sử dụng bền nhất; an toàn nhất; nhanh nhất; dễ sử dụng nhất; thuận tiện nhất; kiểu dáng đẹp nhất; hoặc phong cách nhất.

Trong ngành sữa của Việt Nam hiện nay, Abbott định vị thương hiệu như là “sữa bột tăng cường IQ cho trẻ”, tuy nhiên do sự tấn công khá quyết liệt của đối thủ cạnh tranh mà định vị đó trở nên lỗi thời, vì vậy năm vừa rồi Abbott chuyển sang định vị thương hiệu cũng như hệ thống nhận diện thương hiệu là “sữa bột số 1 Việt Nam”.

Vinamilk định vị thương hiệu “chất lượng quốc tế” để nhắc nhở cho người tiêu dùng Việt Nam thấy Vinamilk là công ty duy nhất của Việt Nam xuất khẩu sản phẩm sữa sang hơn 10 nước trên thế giới, tuy nhiên thời gian gần đây Vinamilk cũng dần chuyển sang định vị thương hiệu đơn giản “mẹ yêu bé”.

NutiFood thì định vị thương hiệu là “vì tương lai Việt” để khẳng định mình là sản phẩm sữa thuần Việt nhất. Mead Johnson thì định vị “gia đình Enfa A+” để khẳng định họ chỉ tập trung vào phân khúc trẻ em với những vi chất cần thiết cho trẻ. Nestlé đơn giản là “cùng mẹ yêu bé” để định vị chung cho sữa và thực phẩm của công ty.

Các công ty thường có xu hướng muốn kéo các phân khúc thị trường lại với nhau thay vì chỉ tập trung vào một phân khúc. Ví dụ, Dutch Lady do có nhiều phân khúc nên họ định vị thương hiệu “sẵn sàng một sức sống” cho dòng sữa nước, và “cùng bé yêu khôn lớn” khẳng định sự đa dạng sản phẩm của mình cho mọi lứa tuổi và nhằm tách khỏi thông điệp IQ được rất nhiều nhãn hiệu sữa lựa chọn.

Định vị giá trị cho thương hiệu sản phẩm

14

Người tiêu dùng thường cho rằng đồng tiền họ bỏ ra để sở hữu một hàng hóa phải xứng đáng với giá trị của nó. Vì vậy, trong định vị thương hiệu, các công ty thường định vị một cách an toàn để người mua lượng hóa được chi phí họ bỏ ra để có được một giá trị hữu dụng thỏa đáng. Trong ngành sữa, giá trị hữu dụng đó chính là dinh dưỡng cho người tiêu dùng và người thân của họ.

  • Đắt tiền hơn để có chất lượng tốt hơn:

Những công ty thường xuyên nâng cấp sản phẩm sữa của mình có giá trị dinh dưỡng cao hơn sản phẩm hiện tại. Khi sản phẩm hiện tại có giá trị được định vị thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng cao thì việc định vị sản phẩm mới hoàn toàn thuận lợi. Một loạt nhãn hiệu được nâng cấp như Friso lên Friso Gold, 123 456 nâng cấp với TT ratio của Dutch Lady, Dumex nâng cấp thành Dumex Gold của Dumex, Dielac lên Dielac Alpha có sữa non colostrum của Vinamilk. Những sản phẩm này tượng trưng cho phong cách sống cao hơn, riêng biệt hơn.

  • Giữ nguyên giá nhưng chất lượng cao hơn:

Nếu như các sản phẩm hiện tại có giá trị định vị thương hiệu thấp thì thường các công ty sử dụng hình thức định vị giá trị cao hơn nhưng giữ nguyên giá. Rõ nét nhất là Vinamilk khi họ định vị dòng sữa tiệt trùng và sữa chua của họ. Nhãn hiệu YoMilk được làm mới nhưng giá vẫn không đổi trong một thời gian dài.

  • Giữ nguyên chất lượng nhưng giá rẻ hơn:

Có nhiều công ty giữ nguyên chất lượng nhưng nâng cao số lượng, để giá đơn vị rẻ hơn, hoặc thiết kế nhận diện thương hiệu với bao bì nhỏ hơn. Nhãn hiệu Enfa của Mead Johnson tăng gấp đôi dung lượng từ 900g lên 1,8kg giá đơn vị rẻ hơn, hoặc Nuti có bao bì 20g giá chấp nhận được cho giới bình dân. Việc nâng cao số lượng phổ biến nhất là từ bao bì sữa 450g hoặc 400g lên 900g vì dễ bảo quản cũng như không vượt ngưỡng giá dành cho khách hàng mục tiêu.

Do đặc thù của ngành mà không một công ty sữa nào dám giảm chất lượng sữa của mình, đổi lại là giá rẻ đi rất nhiều, hoặc chất lượng cao hơn song giá thành rẻ hơn.

Dịch vụ hậu mãi nâng tổng giá trị cho thương hiệu sản phẩm

15

Tháng 4/2015 vừa qua, Dutch Lady tổ chức thành công “Ngày hội nông trại gia đình” quy tụ các gia đình nổi tiếng của Showbiz Việt và rất đông khán giả tham dự

Không những bán sản phẩm, các công ty sữa đều tập trung định vị dịch vụ hậu mãi của mình, làm cho giá trị hữu dụng của sản phẩm sữa tăng cao thêm.

Phổ biến nhất là lập các câu lạc bộ, cũng như trại tư vấn sức khoẻ miễn phí như Enfa A+ của Mead Johnson, Anlene của Fonterra, Calcimex của Dutch Lady, Gain Advance IQ của Abbott… Cũng có một số công ty thành lập hẳn một trung tâm dinh dưỡng như Vinamilk, Dutch Lady, cá biệt có Dutch Lady lập hẳn một đường dây nóng chuyên tư vấn dinh dưỡng thường xuyên cho khách hàng của mình.

Chính những chiến lược marketing cũng như định vị thương hiệu trên đã giúp cho các nhãn hiệu sữa có bước đi mạnh bạo hơn, nhưng có về đích hay không lại là một chuyện khác. Muốn có những bước đi mạnh bạo và có con đường riêng, doanh nghiệp cũng cần phải có tầm nhìn thương hiệu (Brand Vision) rõ ràng để toàn công ty cùng theo đó mà đi theo.

Theo Vneconomy

Biên tập bởi Brand2

 

TƯ VẤN CHIẾN LƯỢC MARKETING: WALT DISNEY DƯỚI GÓC NHÌN MARKETING (PHẦN 3)

Tiếp theo bài viết về tư vấn chiến lược Walt Disney – bên cạnh óc marketing thiên tài thì điều làm nên sự vĩ đại của Walt Disney trong ảnh hưởng xã hội, kinh doanh cũng như marketing là…

3. Chiến lược kinh doanh theo “chuỗi giá trị”

Khi sở hữu những “nhân vật” tầm cỡ như chuột Mickey, vịt Donald hay sau này là thuyền trưởng Jack Sparrot, bản thân Walt Disney và công ty ông đã tuyên bố: “Tôi sẽ không để lợi nhuận từ những nhân vật của mình giới hạn trong bất kỳ hình thức kinh doanh nào”. Và Walt Disney đã mở rộng kinh doanh cũng như mở rộng nhượng quyền thương hiệu mà không cần bất cứ chiến lược marketing rầm rộ nào.

Chuột Mickey là thương hiệu tiên phong trong việc nhượng quyền – hình ảnh Mickey xuất hiện khắp nơi – từ que kem, đến cặp sách, nón, bánh, … Hai năm sau khi ra đời, kem Mickey đã bán được 1,000,000 cây tại Mỹ – mang về lợi nhuận 0,5 USD/cây kem cho Walt Disney. Chuột Mickey dường như đã trở thành một hình ảnh để nhận diện thương hiệu của Walt Disney. Tại Việt Nam hiện nay có 2 doanh nghiệp đang mua bản quyền hình ảnh của Walt Disney là công ty nước đóng chai Sapuwa và doanh nghiệp bánh kẹo ABC (tách ra từ Đức Phát) với chi phí hàng trăm ngàn USD mỗi năm.

ww

tư vấn chiến lược walt disney

“Tôi sẽ không để lợi nhuận từ những nhân vật của mình giới hạn trong bất kỳ hình thức kinh doanh nào” – Walt Disney tuyên bố

Để mở rộng đường cho những nhân vật của mình tiến vào thế giới thật, Walt Disney cho xây dựng Disney Land – và sau này là Disney World, là “công viên giải trí” đầu tiên tại Mỹ và cũng là đầu tiên trên thế giới. Disney Land được định vị thương hiệu không chỉ là một công viên giải trí, mà còn là một “Walt-Mart” của các sản phẩm mang thương hiệu Disney và một loạt những dịch vụ đi kèm. Những siêu sao như Britnet Spears, Christina Aguilera hay Justin Timberblank đều xuất thân từ “Mickey club” – một dịch vụ học về nghệ thuật tại Disney Land. Như chính thương hiệu Disney, Disney Land, có hệ thống nhận diện thương hiệu sinh động, đúng là WonderLand – miền đất thần tiên.

Một bước đi được đánh giá là cực kỳ táo bạo của Walt Disney là lập kênh truyền hình “Disney Channel”. Và liệu một kênh truyền hình chỉ có Walt-Disney style có thể thu hút mọi người không? Hầu hết mọi người nói là không – nhưng Walt Disney vẫn rất tự tin.

Và kết quả đã chứng minh là họ đúng, khi Disney Channel là một trong những kênh truyền hình được định vị thương hiệu là dành cho trẻ em được ưa chuộng nhất thế giới. Và từ kênh truyền hình này, những ngôi sao mới của loạt phim truyền hình xuất hiện. Chắc không ai quên được cô bé Hanna Montana đã trở thành hình mẫu của trẻ em thế giới thế nào. Đi sau những bộ phim & loạt phim ấy là những đĩa DVD cho những người hâm mộ, những soundtrack để rót đầy vào Ipod của lũ trẻ, và cả những chuyến lưu diễn ca nhạc vòng quanh thế giới của Hanna Montana. Đó là chưa kể những ảnh hưởng từ phong cách ăn mặc, cách nói chuyện, … đến trẻ em toàn thế giới.

Việc Walt Disney lập Disney Channel như khi Apple giới thiệu App Store vậy. Từ Disney Channel hay App Store, hai công ty trên đã nắm quyền lực tối thượng trong thế giới hiện nay – quyền lợi của kênh phân phối. Rất nhiều người sẽ há hốc mồm khi thương hiệu Apple công bố doanh thu của App Store là 2,000,000 USD mỗi …ngày – trong đó 30% là thuộc về Apple, thì chắc hẳn họ sẽ phải ngất xỉu nếu biết được doanh thu của Walt Disney, nhất là vào trong những mùa cao điểm (sau những mùa “bom tấn”).

Lời kết

Những chiến lược kinh doanh của Walt Disney như đầu tư vào thương hiệu, cụ thể là hệ thống nhận diện thương hiệu, mở rộng kênh phân phối, đi ngược về 2 đầu của chuỗi giá trị,… đều được các tập đoàn hiện nay áp dụng triệt để. Nhưng Walt Disney đã làm điều đó trước họ 50 năm, hay cũng trước Steve Jobs 40 năm. Đằng sau những nụ cười của trẻ thơ trong rạp phim là một đế chế thật sự, vững mạnh và trường tồn. Xin tặng mọi người một câu quote để đúc kết lại bài viết này: “Remember if you see someone on top, they didn’t fall there”.

Theo Brandsvietnam

Biên tập bởi Brand2

CÁC THƯƠNG HIỆU MÌ ĂN LIỀN VỚI CUỘC CHIẾN TỶ ĐÔ

Hiếm có sản phẩm nào có tầm phủ sóng rộng như mì ăn liền, khi tốc độ tăng trưởng của thị trường này tại Việt Nam luôn trong top đầu và tiếp tục tăng.

 Cuộc đối đầu gay gắt của các thương hiệu mì ăn liền

Thị trường mì ăn liền Việt Nam là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Mới đây, Hiệp hội mì ăn liền thế giới cho biết, mức tiêu thụ sản phẩm này tại Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản.

Theo đó, tổng sản lượng thị trường trong nước hiện ở mức khoảng hơn 7 tỷ gói/năm, cùng doanh thu hơn 20.000 tỷ đồng. Trong giai đoạn 4 năm trước đây, thị trường mì ăn liền tăng trưởng tới 24%. Năm 2013, tốc độ tăng trưởng chững lại, chỉ đạt khoảng 5% nhưng thị trường vẫn được xem là “miếng bánh ngon” cho nhiều ông lớn.

zz

Doanh nghiệp Việt không dẫn đầu thị trường mì ăn liền Việt nhưng những ông lớn như thương hiệu Masan, Asia Foods hay Vifon đều khẳng định vị thế của mình. Hiện, Masan Consumer là doanh nghiệp Việt chiếm thị phần cao nhất với tỷ lệ 16,5%. Asia Food chiếm thị phần 12,1%. Vina Acecook, công ty có vốn đầu tư từ Nhật Bản đang dẫn đầu thị trường với thị phần 51,5%. Vina Acecook đang sở hữu hơn 20 nhãn hiệu mỳ… Như vậy, 3 ông lớn của ngành đã nắm giữ hơn 80% thị phần. 20% còn lại dành cho các thương hiệu nhỏ hơn như Miliket – Cosula, Vifon…

Các nhà sản xuất cho biết, khẩu vị ẩm thực của người tiêu dùng ngày nay cũng đa dạng nên sản phẩm phải đáp ứng khẩu vị thì mới được chấp nhận. Điều này cho thấy, cạnh tranh trên thị trường mì ăn liền hiện khá gay gắt. Thương hiệu nào chậm đổi mới về kiểu dáng, chất lượng là sẽ bị loại bỏ ngay. Vì vậy, việc thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu mới cùng chiến lược marketing phải được triển khai liên tục.

Cuộc đua thật sự khốc liệt khi các đại gia không ngừng rót vốn vào sản xuất mì ăn liền. Năm 2012, Vina Acecook đã tăng thêm vốn 10 triệu USD và đưa vào hoạt động hai nhà máy sản xuất mì ăn liền tại TP.HCM có quy mô, công nghệ thuộc loại hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á.

Tăng cường quảng cáo để chiếm lĩnh thị trường

mi goi

Thực tế, việc cạnh tranh trên thị trường mì ăn liền chỉ bùng nổ và một xu hướng phát triển kinh doanh dựa vào chiến lược marketing, tiếp thị hình ảnh, truyền thông thực sự xuất hiện khi liên doanh sản xuất mì Vifon Acecook hình thành vào năm 1993. Cuộc cạnh tranh trên thị trường cũng khá quyết liệt cả giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Trước hết, phải kể đến Vina Acecook, thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực này. Vina Acecook định vị thương hiệu nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng được bảo chứng bởi công nghệ Nhật Bản. Trong khi đó, Vifon lại tạo dựng sức mạnh với định vị thương hiệu từ một thương hiệu lâu đời nhất Việt Nam, và đã chứng thực được niềm tin thông qua mạng lưới xuất khẩu rộng khắp và cả ở những thị trường khó tính, có yêu cầu cao.

Đặc biệt, khi Massan tung ra dòng sản phẩm Omachi thì quả là một bước đột phá trong công nghệ “lăng xê” mì gói. Việc lựa chọn định vị thương hiệu ở phân khúc cấp trung và chuyển tải một thông điệp rất thiết thực “không sợ nóng” là một lựa chọn chiến lược xuất sắc của Massan.

Mì ăn liền Trung Quốc – giá trẻ không còn là ưu điểm

Ưu điểm lớn nhất của hàng Trung Quốc chính là giá rẻ. Nhưng trong thị trường mì ăn liền, giá rẻ không còn là ưu điểm của hàng Trung Quốc nữa, vì các đại gia Việt Nam và Nhật Bản đã lấp đầy mọi phân khúc. Ở phân khúc cao cấp, thương hiệu Masan Consumer chiếm lĩnh với các thương hiệu như Omachi. Ở phân khúc trung cấp có mì Tiến Vua. Phải đối mặt với những ông lớn trên thị trường Việt, mì ăn liền Trung Quốc còn gặp khó khi mang tiếng bởi “đồng nghiệp” ở quê nhà vì sản xuất mì nhiễm độc.

Theo Chất lượng Việt Nam

Biên tập bởi Brand2

TƯ VẤN CHIẾN LƯỢC MARKETING: WALT DISNEY DƯỚI GÓC NHÌN MARKETING (PHẦN 1)

Hầu hết mọi người trong chúng ta đều biết đến Walt Disney như một tư vấn chiến lược thương hiệu quá nổi tiếng về giải trí – gắn liền với tuổi thơ của bao thế hệ trên thế giới. Song hầu như rất ít người biết về Walt Disney – người sáng lập ra tập đoàn Walt Disney hùng mạnh.

Thành công của Walt Disney hiện nay không phải ngẫu nhiên – mà có thể xem là một trong những tấm gương về triết lý kinh doanh, nghị lực và chiến lược marketing thiên tài.

     1. Chiến lược marketing đại tài

Tôi sẽ không nói nhiều về tiểu sử và con đường thành công của Walt Disney – vì mọi người có thể Google dễ dàng. Tôi xin phân tích về óc marketing cũng như chiến lược marketing thiên tài của Walt Disney – thể hiện qua 3 điểm chính:

a. Triết lý kinh doanh

Triết lý kinh doanh của Walt Disney gói gọn trong 2 câu nói của ông: “Tôi không vẽ phim hoạt hình cho trẻ thơ, tôi vẽ phim hoạt hình trong đứa trẻ trong mỗi chúng ta. Tôi gọi đứa trẻ đó là sự ngây thơ. Trong cuộc sống, nếu vì bất cứ lý do nào mà để mất đi sự ngây thơ đó thì thật là đáng tiếc.” Đây có thể xem là tiền đề cho bước “định vị thương hiệu” tiếp theo của Walt Disney.

Ngoài triết lý rất nhân văn trong câu nói, điểm thiên tài của Walt Disney là ông bỏ qua những lý thuyết thông thường về khách hàng mục tiêu (phân tích theo hành vi, độ tuổi – demographic) mà đi vào “nhu cầu mục tiêu”. Nói cách khác, Walt Disney không xác định “target audience” mà xác định “target need”, đây không phải là sản phẩm cho trẻ em – mà là sản phẩm cho những người có nhu cầu trở về tuổi thơ.

7

tư vấn chiến lược thương hiệu walt disney

Bằng cách xác định mục tiêu như vậy, thị trường của Walt Disney có thể nói là tất cả mọi người, không còn giới hạn bởi lứa tuổi, địa lý, ranh giới nào.

“It’s fun to do the impossible” (Làm điều không thể thật sự rất vui), đó là câu nói của ông vào những năm 1945. 20 năm sau, một nhà kinh tế học – xuất thân từ CIA, đã thêm vào vế sau “Because there is less competition there” (bởi vì ở đó có ít cạnh tranh hơn).

Thật vậy, khi đã nói về “the impossible” (điều tưởng chừng không thể), thì đó không phải là bài toán về nguồn lực – mà là bài toán về niềm tin.

b. Xây dựng niềm tự hào của nhân viên

Một trong những trọng tâm của chiến lược marketing hiện đại là chiếm được niềm tin tuyệt đối của “khách hàng nội bộ” – vốn là những nhân viên trong công ty, những người sẽ trực tiếp làm ra sản phẩm & thuyết phục công chúng sử dụng.

8

“Tôi không vẽ phim hoạt hình cho trẻ thơ, tôi vẽ phim hoạt hình trong đứa trẻ trong mỗi chúng ta”

Hãy nghe Walt Disney “định vị thương hiệu” công ty của mình: “Walt Disney là một phần của lực lượng sáng tạo làm nên thế giới tưởng tượng của trẻ em trên toàn cầu.” Một “định vị” rất nhân văn, rõ ràng, không kiêu ngạo song đầy cuốn hút. Điểm đáng lưu ý là Walt Disney đưa ra “định vị thương hiệu” này vào những năm 1940 – tức là 48 năm trước khi khái niệm “thương hiệu” – và một loạt khái niệm như “nhận diện thương hiệu, hệ thống nhận diện thương hiệu,…” ra đời sau đó vào năm 1988.

Xây dựng niềm tự hào nội bộ còn thể hiện bằng việc Walt Disney “tẩy não” và liên kết nhân viên của mình một cách triệt để với công việc. Tại Walt Disney – nhân viên là “diễn viên”, công ty là “sàn diễn”, khách hàng là “người xem” … Một loạt những thuật ngữ rất “sân khấu” được sử dụng để mô tả công việc – như luôn nhắc nhở mỗi nhân viên rằng họ đang làm trong ngành công nghiệp nào.

Theo Brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

CHIẾN LƯỢC THƯƠNG HIỆU CÀ PHÊ PHÚC LONG

Xuất hiện từ năm 1957 tại Bảo Lộc – Lâm Đồng, thương hiệu Phúc Long nổi tiếng với truyền thống kinh doanh trà và cà phê. Trải qua hơn nửa thế kỷ phát triển, trà và cà phê Phúc Long đã quá quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Tuy nhiên, nếu như cách đây 2 năm, các cửa hàng của Phúc Long chỉ đơn thuần là nơi bán và giới thiệu sản phẩm thì gần đây, thương hiệu này dường như đã thay đổi cách tiếp cận khách hàng và bắt đầu quảng bá thương hiệu bằng chuỗi cửa hàng cà phê Phúc Long với thiết kế nhận diện thương hiệu mới và sự xuất hiện tại những vị trí đắc địa trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh. Điều này góp phần tạo nên trào lưu cho giới trẻ nhưng cũng khiến các “lão làng” vốn đang thống lĩnh thị trường phải e dè.

Cuộc đua với các “lão làng” lớn

4

chiến lược thương hiệu cà phê Phúc Long

Không gian và menu cửa hàng Phúc Long khá giống với các đối thủ cạnh tranh

Chỉ cần lang thang từ Nhà thờ Đức Bà đến chợ Bến Thành, rồi vòng xuống khu Tây balô Phạm Ngũ Lão (quận 1), người ta có thể hoa mắt vì sự dày đặc của các chuỗi cửa hàng cà phê. Trong vòng bán kính 600-800m xung quanh chợ Bến Thành, có đến 5/9 cửa hàng Starbucks, 10/17 cửa hàng Coffee Bean & Tea Leaf và hơn chục cửa hàng cà phê Trung Nguyên. Chuỗi cửa hàng cà phê Phúc Long ra đời sau cũng đã kịp đặt 6/10 cửa hàng ở khu vực này. Việc đặt các cửa hàng nằm đối diện hay cách không xa cửa hàng của đối thủ có là bước đi ngẫu nhiên hay sự đặt để đầy sự tính toán?

Thực đơn và chính sách giá bán của Phúc Long cũng có nhiều điểm đáng chú ý. Vẫn dựa trên thế mạnh sẵn có là trà và cà phê, Phúc Long xây dựng thực đơn khá phong phú, có trà và cà phê truyền thống cùng các loại thức uống đá xay không khác gì các thương hiệu ngoại. Phúc Long bán cả các loại trà sữa – loại đồ uống yêu thích của giới trẻ trong thời gian gần đây. Sản phẩm tương tự nhưng giá bán lại khá mềm, chỉ khoảng 25.000 – 45.000 đồng/ly, bằng 50 – 70% so với giá bán của Trung Nguyên, hay 30% – 50% giá bán của Starbucks và The Coffee Bean & Tea Leaf.

Tất nhiên, mỗi thương hiệu có phân khúc khách hàng mục tiêu của riêng mình. Starbucks và The Coffee Bean & Tea Leaf định vị thương hiệu cao cấp khi nhắm tới dân văn phòng thu nhập cao và khách nước ngoài vốn đã quen với khẩu vị của cà phê ngoại. Trung Nguyên định vị thương hiệu tầm trung nhưng xác định rõ phân khúc khách hàng yêu thích hương vị cà phê truyền thống. Còn cái hay của Phúc Long là hướng đến đối tượng khách hàng đa dạng hơn, từ người đi làm, khách du lịch cho đến học sinh, sinh viên. Giá bán phù hợp với túi tiền của đại đa số người dân có thể giúp Phúc Long đưa thương hiệu của mình đến mọi đối tượng tiêu dùng một cách nhanh nhất.

Không quá khó để nhận diện thương hiệu Phúc Long ở các vị trí đắc địa – các góc ngã tư hoặc gần cửa hàng đối thủ trên địa bàn quận 1 – Tp. Hồ Chí Minh. Nhưng sự toan tính của Phúc Long khi chọn địa thế này lại được các nhà tư vấn chiến lược marketing đặt ra câu hỏi: “với giá bán rẻ hơn đối thủ trong khi giá thuê mặt bằng vẫn ngang ngửa và chi phí đầu tư lớn, chắc hẳn Phúc Long không muốn chơi ngông sau nửa thế kỷ ẩn mình, vậy điều gì đang nằm trong đầu của ông chủ thương hiệu này?”

Bài toán khó về vị trí cửa hàng Phúc Long

5

Phúc Long muốn thương hiệu của mình được “truyền miệng” ra thế giới

Tận dụng lợi thế sân nhà để lựa chọn đối đầu trực tiếp với Starbucks và những thương hiệu cà phê ngoại khác, Phúc Long đã tự nâng tầm thương hiệu với những ông lớn này, và từ đó tạo sức bật ra thị trường quốc tế thông qua du khách đến Việt Nam. Khi lựa chọn một đất nước là điểm đến khám phá, khách du lịch nước ngoài sẽ có xu hướng thưởng thức các thương hiệu nội địa thay vì các thương hiệu quen Starbucks hay The Coffee Bean & Tea Leaf. Rồi khi trở về nước, họ sẽ trở thành kênh quảng cáo “truyền miệng” của Phúc Long, phát tán đi thông tin về chất lượng và sản phẩm của một hãng cà phê Việt.

Đổi lại, Phúc Long phải chịu một khoảng chi phí không nhỏ với giá thuê mặt bằng cao ngất ngưỡng và chi phí đầu tư khổng lồ. Bao giờ mới có lãi hoặc ít nhất, lấy lại được vốn? Câu trả lời có lẽ là rất lâu hoặc không bao giờ. Nhưng giữa lợi ích của việc phát triển thương hiệu và lợi nhuận, Phúc Long chọn thương hiệu. Hơn nữa, với chiến lược này, Phúc Long đã vô tình thu hút được sự quan tâm đáng kể của giới trẻ.

Tại quán cà phê Phúc Long trên đường Lê Lợi, với diện tích chưa đến 30 m2 nhưng lúc nào cũng trong tình trạng hết chỗ với hơn 35 khách đang ngồi, đa số còn rất trẻ. Mong rằng, Phúc Long sẽ sớm áp dụng chiến lược thương hiệu bổ sung là mở thêm những chuỗi cửa hàng mới phục vụ riêng cho nhóm này ở những khu vực có giá thuê thấp hơn, nhằm cân bằng chi phí và lợi nhuận.

Cuộc chiến dai dẳng

6

Phúc Long linh động trong thực đơn của mình để thu hút đa dạng đối tượng

Trong cuộc cạnh tranh với những đối thủ Việt Nam, các thương hiệu ngoại vẫn đang thay đổi để phù hợp với thói quen của người địa phương. Trong thực đơn của mình, The Coffee Bean & Tea Leaf và Starbucks đều hướng đến khẩu vị của người Việt. Ngoài việc bổ sung những thức uống hợp khẩu vị hơn, cả 2 thương hiệu này cũng đang thay đổi thói quen kinh doanh của mình. Tại Mỹ, các cửa hàng của Starbucks và The Coffee Bean & Tea Leaf chủ yếu bán cà phê mang đi (take-away). Khi về đến Việt Nam, họ đều “nhập gia tùy tục” với các cửa hàng được thiết kế sang trọng, không gian thoải mái để các thượng đế có thể ngồi lâu hơn, nếu muốn. Starbucks hiện có kế hoạch phát triển chuỗi cửa hàng tại các khu vực mang tính địa phương hơn khi tập trung vào các khu dân cư. Bước đầu là cửa hàng Starbucks Phan Xích Long (quận Phú Nhuận), kế tiếp có thể là cửa hàng Starbucks Panorama (quận 7) và Pandora City (quận Tân Phú).

Trung Nguyên dù đang ghi điểm tuyệt đối về độ phủ của thương hiệu với hơn 70 cửa hàng trên toàn quốc, nhưng họ cảm thấy chưa đủ an toàn. Thương hiệu này đang tiếp tục mở rộng mạng lưới hoạt động để tăng mức độ cạnh tranh với những đối thủ kia.

Một thương hiệu cà phê Việt khác là Phin Deli cũng đang chuẩn bị phát triển chuỗi 30 cửa hàng của riêng mình. Với khả năng kinh doanh nhạy bén của người mua thị trấn Mỹ Phạm Đình Nguyên, cùng sự hậu thuẫn của Kinh Đô, Phin Deli sẽ là cái tên tiếp theo đẩy cuộc cạnh tranh chuỗi cà phê lên cao trào.

Như vậy, thị trường cà phê vẫn sẽ còn chứng kiến những cuộc cạnh tranh khốc liệt và căng thẳng hơn trong tương lai. Ngay tại thời điểm này, nếu loại trừ thương hiệu mà chỉ tính đến lượt khách và doanh thu thì sẽ rất khó để tranh ngôi thứ cao thấp. Phúc Long ra đời sau nhưng đang thể hiện tốt sự năng động của mình trước các “lão làng” cả nội lẫn ngoại. Đến khi Phin Deli xuất hiện, chắc chắn bức tranh toàn cảnh về cuộc chiến của 5 ngũ tướng cà phê sẽ trở nên rõ ràng hơn.

Theo Nhịp cầu đầu tư

Biên tập bởi Brand2

CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN – TƯ DUY ĐỘT PHÁ VÀ NĂNG LỰC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU

Ngày 27-4-2011, Chuyên mục giới thiệu những công ty xây dựng thương hiệu thành công của tạp chí 123 năm tuổi, danh tiếng nhất thế giới – Financial Times(*) – xuất hiện một thương hiệu Việt Nam: “Cà phê Trung Nguyên”, bài viết do Morgen Witzel (**) thực hiện. Đây là niềm tự hào của một thương hiệu Việt bên cạnh các tên tuổi hàng đầu thế giới về sáng tạo và kỹ nghệ như WalMart, Cirque du Soleil, Procter & Gamble…

Khởi nguồn

Ngành nông nghiệp cà phê ở Việt Nam bắt đầu hình thành dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp vào thế kỷ 19 và nhanh chóng trở thành một ngành công nghiệp chủ lực. Vào giữa những năm 1990, Việt Nam đã trở thành một trong ba nhà sản xuất cà phê lớn nhất thế giới.

1

xây dựng thương hiệu cà phê trung nguyên

Tuy nhiên, hầu hết cà phê của Việt Nam đều có chất lượng thấp và xuất khẩu với giá thấp. Trước thực trạng đó, doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ tin rằng những hạt cà phê chất lượng, đặc biệt của Việt Nam có thể được sản xuất và bán với giá trị cao tương xứng. Vì vậy, năm 1996, ông đã thành lập thương hiệu Trung Nguyên, một công ty sản xuất cà phê cùng một hệ thống quán cà phê.

Thách thức ban đầu

Việt Nam là một thị trường mới nổi. Năm 1995, thu nhập bình quân đầu người chỉ có $ 250 (năm 2010 là $ 1,200). Đây là một trong những lý do tại sao ông Vũ đã chọn để phát triển một thương hiệu với định vị thương hiệu đẳng cấp nhằm chiếm lĩnh cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Để thực hiện được điều đó, ông đã phải thuyết phục thị trường trong nước tin tưởng vào giá trị và chất lượng sản phẩm mà thương hiệu Trung Nguyên đem đến và thuyết phục thị trường quốc tế rằng Việt Nam có khả năng sản xuất những sản phẩm cà phê đặc biệt dành cho những người sành cà phê.

Thị trường Việt Nam

Chiến lược xây dựng thương hiệu của Trung Nguyên được lên kế hoạch cẩn thận. Để cạnh tranh với các công ty đa quốc gia về cà phê chuyên trong lĩnh vực chuỗi cửa hàng cà phê hoặc thương hiệu đa quốc gia như Nescafé, ông Vũ định vị thương hiệu Trung Nguyên là một phần của truyền thống Việt Nam. Việc thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu theo một phong cách đẳng cấp, truyền thống cũng đã góp phần làm nên tên tuổi của Trung Nguyên.

2

Một trong những sản phẩm đặc biệt, nổi tiếng nhất của Trung Nguyên là Cà phê Chồn (Weasel). Sản phẩm tinh tế, đẳng cấp này duy nhất trên thế giới, được bộ ngoại giao làm quà tặng cho các Nguyên Thủ Quốc Gia và chọn làm đại sứ ngoại giao văn hóa.

Kết hợp di sản văn hóa và tính hiện đại là điểm đặc sắc của Trung Nguyên, được thể hiện rõ trong hệ thống nhận diện thương hiệu, cụ thể là bao bì, trong mô hình thiết kế, trang trí của các quán cà phê. Với slogan “Khơi nguồn sáng tạo” Trung Nguyên đã tạo cảm hứng, thúc đẩy sáng tạo cho những người thưởng thức cà phê.

Quán Trung Nguyên đầu tiên xuất hiện tại TP Hồ Chí Minh vào năm 1998, và đến năm 2010 Trung Nguyên đã có hơn 1.000 quán trên khắp Việt Nam và ra quốc tế. Trung Nguyên cũng đã đa dạng hóa sản phẩm cà phê, tạo nên những sản phẩm cà phê có hàm lượng cafein thấp, cà phê hòa tan G7, gu thưởng thước Cappuccino theo phong cách Ý…

Chinh phục quốc tế

3

Xuất khẩu là một phần quan trọng của chiến lược phát triển cũng như chiến lược marketing được Trung Nguyên xác lập ngay từ đầu, hiện nay Trung Nguyên đã xuất hiện hơn 50 quốc gia (Mỹ, Anh, Nhật, Úc,…) trên thế giới.

Hầu như sự hấp dẫn của thương hiệu là tấn công vào các thị trường ngách, đánh vào nhu cầu của khách hàng về một loại sản phẩm cà phê khác biệt, đặc biệt. Chẳng hạn như nhu cầu ở thị trường Mỹ, Anh, Úc… Đây cũng có thể được xem như một cách định vị thương hiệu của Trung Nguyên ở nước ngoài.

Những nỗ lực để nhân rộng các quán cà phê trong nước nhằm thực hiện chiến lược xây dựng thương hiệu và thành lập hệ thống quán Trung Nguyên ở nước ngoài đều gặt hái được thành công. Hiện Trung Nguyên đã có nhiều quán ở Singapore và một số nơi khác trên thế giới như Nhật, Thái Lan.

Bài học

Xây dựng thương hiệu đẳng cấp trong một thị trường mới nổi có vẻ là mâu thuẫn. Nhưng trường hợp Trung Nguyên cho thấy điều đó có thể thực hiện được. Bằng sự kết hợp yếu tố văn hóa dân tộc, các giá trị và tạo nên một thương hiệu giàu khát vọng mà qua đó các tầng lớp tri thức trẻ nhìn thấy mình trong đó và khát khao khẳng định.

Tuy nhiên, Trung Nguyên cũng phải nhìn nhận rằng, việc phát triển, mở rộng thương hiệu ở nước ngoài sẽ mất nhiều thời gian, và đòi hỏi nhiều sự điều chỉnh linh hoạt cho từng thị trường riêng biệt của quốc tế.

(*) The Financial Times (FT) là một tờ nhật báo quốc tế chuyên ngành kinh doanh được xuất bản tại London, Anh và phát hành ở 24 thành phố khác trên toàn thế giới.

(**)Tác giả Morgen Witzel

Hơn 20 năm nghiên cứu về tư duy sáng tạo, thương hiệu. Các đầu sách nổi tiếng như (How to Be Your Own Management Guru, Knowledge Corporation, Corporate Finance and the Virtual Organization, Management…) dịch sang nhiều ngôn ngữ trên thế giới như Trung Quốc, Đức, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ba Lan, và Tây Ban Nha.

Theo Bransvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

VÌ SAO STARBUCKS LOẠI CAPPUCCINO KHỎI THỰC ĐƠN TẠI NHIỀU CỬA HÀNG?

Từ năm 1986, Cappuccino là một trong những loại đồ uống espresso cơ bản nhất trong thực đơn của Starbucks kể từ khi CEO Howard Schultz đưa vào. Nhưng mới đây, Starbucks đã ngừng liệt kê món cappuccino trên thực đơn tại nhiều cửa hàng. Tại nhiều cửa hàng, khách hàng đã xác nhận việc này ở New York, San Francisco và Seattle.Liệu việc loại bỏ Cappuccino là bước thay đổi dần trong chiến lược định vị thương hiệu mới của Starbucks.

 

1

Cappuccino đã được Starbucks đưa vào thực đơn từ năm 1986

Starbucks từ chối bình luận về việc loại cappuccino ra khỏi thực đơn mà chỉ lưu ý rằng bảng thực đơn tại các cửa hàng trên thế giới có thể khác nhau tùy thuộc vào ý định nhấn mạnh vào loại đồ uống nào tại từng vùng miền và cappuccino vẫn sẵn có khi khách hàng yêu cầu.

Khi được pha chế theo phong cách Ý mà CEO Schultz rất ngưỡng mộ, một ly cappuccino và latte rất khác biệt. Trong khi cappuccino đươc pha chế bằng cách dùng espresso pha với váng sữa hoặc kem và có thêm bột quế/cacao thì latte cũng dùng espresso nhưng pha với sữa ở áp suất cao. Hơn nữa, lưu ý nhỏ ở đây là lượng bọt sữa trong latte chỉ bằng một nửa sữa nóng mà thôi. Vì thế, một ly Latte bao giờ cũng ít “phồng” hơn cappuccio.

2

Các cửa hàng Starbucks pha chế cappuccino khá tuyệt

Năm 2015, tạm gác tính cầu kỳ và phức tạp khi pha chế cappuccino, chúng ta lại tiếp nhận một món mới từ Starbucks dễ gây nhầm lẫn là cà phê kiểu Úc flat white – loại cà phê này cũng là espresso pha với sữa, nhưng sữa và bọt được quậy đều lên. Hầu hết mọi người không hiểu được flat white có gì khác so với latte và cappuccino, thậm chí nhân viên pha chế của Starbucks cũng gặp khó khăn khi được hỏi về vấn đề này.

Mọi chuyện đang được cân nhắc, phải chăng một thực đơn với flat white và latte (thay vì cappuccino và latte) sẽ trở nên phong phú hơn và lợi nhuận tốt hơn?

Cappuccino sẽ ra khỏi thực đơn của Starbucks? Thương hiệu cà phê nổi tiếng này chưa hẳn quyết định như vậy, nhưng hiện nhiều cửa hàng Starbucks đã không còn ghi cappuccino vào thực đơn nữa. Sự thay đổi này đang mang lại nhiều cảm xúc cho đa số khách hàng coi cappuccino là món khoái khẩu. Từ góc độ kinh doanh, từ quan sát định hướng đơn giản hóa nhận diện và làm rõ định vị của Starbucks, liệu đây đơn thuần chỉ là bước đi tái cơ cấu danh mục sản phẩm để tập trung vào vùng lợi nhuận hay sẽ là bước đi để dần tiến tới một định vị thương hiệu mới? Câu trả lời sẽ còn nằm ở phía sau.

Theo nhipcaudautu.vn

Biên tập bởi Brand2

THƯƠNG HIỆU BÁNH NGỌT CỦA NHÀ HỌ LÝ TRÊN ĐẤT MỸ

Thương hiệu bánh ngọt Sugar Bowl Bakery do dòng họ Lý sáng lập năm 1984. Từ một tiệm bánh nhỏ có giá 40.000 USD ở San Francisco, Sugar Bowl Bakery nay đã trở thành lò bánh công nghiệp cao cấp trị giá 60 triệu USD, lớn nhất phía Bắc bang California.

Hiện nay, thương hiệu bánh ngọt Sugar Bowl Bakery có mặt ở 7.000 cửa hàng trên khắp nước Mỹ, đồng thời xuất khẩu qua 11 quốc gia ở châu Á và châu Âu. Điều gì đã tạo nên thương hiệu bánh ngọt thành công cho gia đình gốc Việt này?

1. Quyết tâm làm chủ

Thành công hiện nay bắt nguồn từ nỗ lực kiên trì của cả 5 anh em họ Lý: Tom, Binh, Andrew, Sam và Paul. Tuy đến Mỹ trong tình trạng không một xu dính túi, họ nung nấu quyết tâm làm chủ: “Chúng tôi quyết tâm sẽ làm bất cứ công việc gì. Không chỉ để sống qua ngày mà còn để tích cóp mở cửa hàng của riêng của mình”, Andrew Lý chia sẻ.

Đến năm 1984, sau thời gian dài lao động miệt mài, họ thu gom đủ 40.000 USD để mua lại một quán cà phê nhỏ trên phố Balboa, quận Outer Richmond. Quán cà phê chuyển thành tiệm bánh Sugar Bowl Bakery, chuyên giao bánh rán cho các quán rượu và tiệm ăn trong vùng. Đầu những năm 1990, các khách sạn lớn ở San Francisco đồng loạt cắt giảm chi phí bằng cách thuê ngoài làm các món bánh tráng miệng. Nhân cơ hội đến, Sugar Bowl Bakery nhanh chóng chuyển từ tiệm bán lẻ bánh rán thành đơn vị cung ứng sỉ tới 350 loại bánh ngọt Á – Âu khác nhau cho tất cả khách sạn và bệnh viện trong vùng. Thế là doanh thu tăng vọt lên mức 150.000 USD/năm. Năm 2008, Sugar Bowl Bakery mở rộng thêm 5 tiệm bánh và 2 nhà máy mới ở vùng vịnh San Francisco.

f1

Sau hơn 20 năm hoạt động, mục tiêu ban đầu của ngày đến Mỹ đã thành hiện thực: mỗi người đã có một tiệm bánh của riêng mình. Song, chưa đầy 3 năm sau, họ lại bán đứt tất cả các tiệm bánh và một lần nữa cùng nhau “nhào nặn” một Sugar Bowl Bakery mới.

2. Thăng hoa cùng Costco

Diện mạo mới của Sugar Bowl Bakery có sự góp phần không nhỏ từ hệ thống bán lẻ Costco. Họ gửi hàng mẫu đến Costco để thử nhưng hàng nhanh chóng bị Costco trả về. Sau mỗi lần thất bại, anh em nhà họ Lý lại càng quyết tâm nghiên cứu đầu tư cải tiến chất lượng bánh.

f2

Chất lượng không chỉ nằm ở nguyên liệu, mà còn dựa vào công nghệ để bảo đảm vệ sinh. Để đáp ứng yêu cầu của Costco, họ Lý đã chi hàng triệu USD nâng cấp nhà máy. Các dây chuyền sản xuất được tự động hóa bằng robot. Đặc biệt, bánh sau khi nướng được làm lạnh bằng máy xoáy vòng tốc độ cao. Công nghệ này giúp giữ bánh đến 20 ngày mà không cần chất bảo quản.

Không chứa chất bảo quản – là yếu tố quyết định nên định vị thương hiệu chất lượng của các sản phẩm Sugar Bowl Bakery. Kết quả là đến năm 2008, Costco cùng 14 hệ thống bán lẻ khác của Mỹ đã chấp nhận nhập bán 4 dòng bánh Petite Palmiers, Petite Brownie Bites, Madeleines và Duet Bites của Sugar Bowl Bakery.

f3

Với lợi thế vượt trổi này, Sugar Bowl Bakery hiển nhiên trở thành thương hiệu ưa thích của người tiêu dùng Mỹ và có hệ thống nhận diện được nhận biết rộng rãi. Doanh số Công ty tăng tới 40 triệu USD mỗi năm, bền vững quanh mức 20-25%; và hãng này bắt đầu xuất khẩu ra nước ngoài. Trong năm 2014, lợi nhuận biên tiếp tục được nới rộng khi Công ty lắp đặt máy phát điện năng lượng mặt trời để giảm 65% chi phí điện, đồng thời loại bỏ lượng cacbon và khí ga thải ra môi trường.

Tháng 4.2015, Sugar Bowl Bakery cho ra mắt dòng bánh hữu cơ, hoàn toàn làm từ nguyên liệu tự nhiên. Mục tiêu của họ Lý là đáp ứng nhu cầu dùng thực phẩm hữu cơ của 81% gia đình Mỹ hiện nay. Trước thành công liên tiếp, Micheal Lý, con trai Andrew Lý kiêm Giám đốc Marketing Công ty, khẳng định rằng: “Chuyện chúng tôi giành thị phần lớn hơn chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Ngoài 2 yếu tố chịu khó và kiên trì mà Obama kết luận về thành công của gia đình họ Lý, còn có mối đoàn kết bền chặt giữa các thành viên gia đình và cả với cộng đồng. Andrew Lý chia sẻ về chiến lược thương hiệu mà ông và anh em mình đã xây dựng: “Nếu bạn chỉ làm cho bản thân, thứ bạn làm sẽ chết đi cùng bạn. Nhưng, nếu bạn làm vì người khác, thứ bạn làm sẽ tồn tại mãi mãi”.

Theo nhipcaudautu.vn

 Biên tập bởi Brand2

CÂU CHUYỆN CHIẾN LƯỢC THƯƠNG HIỆU STARBUCKS (PHẦN 1)

Có rất nhiều bài học rút ra cho các doanh nghiệp hiện nay xoay quanh câu chuyện chiến lược thương hiệu Starbucks. Từ quán cà phê nhỏ tại Pike Place – Seattle năm 1971, thương hiệu cà phê lớn nhất thế giới – Starbucks hiện nay đã mở hơn 21.000 cửa hàng tại 65 quốc gia.

1. Tuân thủ sứ mệnh đặt ra

Trong suốt hơn 4 thập kỷ, sứ mệnh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng cho cộng đồng luôn được Starbucks tuân thủ. Thông qua định vị thương hiệu rõ ràng: Starbucks không chỉ là một quán cà phê đơn thuần mà còn là nơi để khách hàng tạm trốn khỏi những lo toan của công việc thường ngày để đến với không gian thưởng thức cà phê độc đáo. Ngoài ra, cửa hàng còn trở thành trung tâm của những cuộc hội họp bạn bè hoặc đàm phán công việc cho các doanh nhân.

2. Luôn lắng nghe và tìm cách thấu hiểu khách hàng

 

ho0

Nhân viên Starbucks luôn chú ý lắng nghe và tìm cách thấu hiểu khách hàng

Có một thủ thuật đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả trong dịch vụ chăm sóc khách hàng mà những người kinh doanh dịch vụ đều biết, đó là thăm hỏi khách hàng đang tìm kiếm điều gì và nhiệt tình giúp đỡ họ. Các nhân viên của Starbucks cũng được huấn luyện để góp phần không nhỏ xây dựng nên hệ thống nhận diện thương hiệu Starbucks – đến Starbucks vào bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, bạn đều được quan tâm.

Khi bạn tìm hiểu được nhu cầu tìm kiếm hiện tại của khách hàng, bạn có thể cùng người đó tìm ra những lựa chọn phù hợp cho bản thân. Điều này giúp gia tăng sự gắn kết của khách hàng với doanh nghiệp mình.

3. Hiểu khách hàng, hiểu cả nhân viên

Như đã đề cập ở trên, nhân viên góp phần không nhỏ giúp bạn chuyển tải những giá trị trong dịch vụ đến khách hàng. Vì vậy, bạn cần phải thấu hiểu cả nhân viên. Khi đã hiểu, bạn sẽ khai thác được những khả năng tiềm ẩn của họ và điều này góp phần rất lớn trong thành công của mỗi doanh nghiệp. Ví dụ minh họa rõ nhất cho điều này là dòng sản phẩm độc quyền Frappuccino của Starbucks là sáng tạo của một nhân viên tên Dina Campion.

4. Sáng tạo không ngừng

 

Google_Starbucks1375329355

Starbucks đã bắt đầu cung ứng dịch vị Wifi miễn phí từ năm 2010

Starbucks không chỉ được xây dựng dựa trên chiến lược thương hiệu rõ ràng ban đầu, mà còn là nơi phát huy mạnh mẽ sự sáng tạo. Khi nhận ra rằng khách hàng có nhu cầu chế biến cà phê tại nhà, Starbucks đẩy mạnh cung ứng bộ cà phê pha sẵn mang tên Via và hệ thống máy pha cà phê Verismo. Hiện nay, Công ty còn cho phép khách hàng trả tiền qua ứng dụng của iPhone. Đây là công ty đầu tiên áp dụng công nghệ này trong thị trường kinh doanh dịch vụ cà phê tại Mỹ.

Duy trì những yếu tố cốt lõi truyền thống là tốt, nhưng hãy đủ linh hoạt để chấp nhận và chào đón các xu hướng  mới để thích nghi với môi trường kinh doanh đang không ngừng thay đổi.

5. Hãy có trách nhiệm

Trong cung cấp dịch vụ, thỉnh thoảng ta luôn mắc một số sai lầm như ghi nhầm thức uống, tính nhầm hóa đơn,… Điều tạo nên khác biệt giữa các đơn vị chính là khả năng nhanh chóng nhận lỗi và sửa sai đối với khách hàng.

Bạn cần đảm bảo là đã tập huấn cho nhân viên đủ linh hoạt để xử lý có trách nhiệm trong các tính huống nhầm lẫn đáng tiếc.

6. Đi ngược lại đối thủ cạnh tranh

Bạn sẽ nhận ra rằng Starbucks có mặt ở hầu hết các ngã tư trong những thành phố mà thương hiệu này xuất hiện. Điều này là một trong những yếu tố xây dựng chiến lược thương hiệu Starbucks.

Thay vì chỉ tập trung vào những khu vực đông dân cư, những khu vực có xuất hiện đối thủ cạnh tranh, Starbucks chọn có mặt tại hầu hết các ngã tư có thể thuê được mặt bằng, điều này góp phần tạo nên hệ thống nhận diện thương hiệu Starbucks. Việc này có thể gây lên áp lực trong chi phí đầu tư nhưng lại giúp Starbucks hạn chế được tối đa cơ hội của các đối thủ cạnh tranh khác.

Các quyết định đi ngược lại đối thủ tuy đầy mạo hiểm nhưng cũng mang lại giá trị lợi nhuận lớn hơn gấp nhiều lần nếu chúng ta biết khai thác lợi thế cạnh tranh này.

Theo brandsvietnam.com

Biên tập bởi Brand2

CHIẾN LƯỢC THƯƠNG HIỆU MỚI CỦA UBER: RA MẮT UBERX

Tại Hà Nội, UberX sẽ bao gồm các dòng xe hạng nhỏ như Honda City, Hyundai i10, Toyota Vios,… còn ở khu vực TPHCM cho đến nay vẫn chưa có thông tin về các dòng xe của UberX.  Tuy vậy theo dự đoán có khả năng Uber sẽ thay đổi dần chiến lược thương hiệu và khách hàng sẽ được phục vụ các loại xe hơi cỡ nhỏ như Kia Morning, Chevrolet Spark, Hyundai Grand i10, … thay vì xe cỡ lớn như hiện tại

UberX định vị thương hiệu là dịch vụ taxi giá rẻ. Mức cước UberX tại Hà Nội là 5.000 đồng/km, còn tại TPHCM sẽ là 8.500 đồng/km, thấp nhất chỉ bằng 1/3 so với mức cước thông dụng của taxi tại Hà Nội. Khách hàng sẽ được trải nghiệm thương hiệu Uber với các dòng xe hạng nhỏ, có 4 chỗ ngồi; đây cũng là dòng xe được sử dụng ở một số quốc gia trên thế giới với chi phí sử dụng dịch vụ thấp hơn.

947f0_uberx_banggia_resize

Theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải thì các Bộ, ngành, cơ quan… có liên quan như Bộ Tài chính; Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và UBND TPHCM sẽ cùng phối hợp để quản lý hoạt động kinh doanh của Uber tại Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật. Theo nội dung văn bản số 2248/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải về tình hình hoạt động kinh doanh của Uber tại Việt Nam và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan sẽ phải cùng nhau quản lý Uber. Cùng với Bộ Giao thông Vận tải, các cơ quan này sẽ quản lý hoạt động kinh doanh của Uber tại Việt Nam theo các lĩnh vực như thương mại điện tử, thanh toán quốc tế, thuế, giấy phép đầu tư, điều kiện cung cấp dịch vụ vận tải…

Theo thesaigontimes.vn

Biên tập bởi Brand2